"Lửa lựu lập lòe" trong văn hóa!

Là tác giả bài thơ “Quả lựu” (1961): “Nửa mưa nửa nắng, là em/ Nắng thưa mưa nhặt, vườn thêm bùi ngùi/ Lòng anh: quả lựu chín mùi/ Lắm khi vừa vỡ vừa cười - đó em”, trên cơ sở nhận xét tính cách thất thường, khó đoán của “em”, thay mặt cánh Ok986 vip Thiên đường trò chơi, Xuân Diệu “trần tình” lòng “anh” thật thà như quả lựu chín, phô rõ hay dở ra bên ngoài.

  • Yêu như “một chú gấu mùa xuân”
  • Con Rắn: Từ thơ ứng tác đến thơ trữ tình

Ai cũng thuộc câu Kiều thật hay: “Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Ok9 cool link đăng nhậpờng lửa lựu lập lòe đơm bông”. Trước đó, trong “Cảnh ngày hè”, Nguyễn Trãi tả hoa lựu: “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ”. Có thể câu thơ Ức Trai đã ánh xạ vào truyện thơ Nôm “Bích Câu kỳ ngộ”: “Đua chen thu cúc xuân đào/ Lựu phun lửa hạ, mai chèo gió đông”.

image003.jpg -1
Các thiên thần dâng hoa, trái lựu - tranh minh họa.

Được trồng ở nhiều mảnh đất văn hóa thế giới đã hàng ngàn năm, cây lựu trở thành biểu tượng của nhiều tôn giáo, tín ngưỡng. Quả màu đỏ tía, lớp vỏ cứng bên ngoài, lớp trung bì xốp bao bọc bên trong hàng trăm hạt nhỏ. Hạt lựu màu đỏ, mọng nước được coi là biểu tượng của năng lực tái sinh, sức khỏe, của nhiều cộng đồng.

Thần thoại Hy Lạp kể cây lựu đầu tiên được nữ thần Aphrodite trồng trên đảo Kypros để lấy quả làm thức ăn. Quý mến, nữ thần gọi trái lựu là “trái gợi tình”. Cũng là trái thiêng với nữ thần Hera, quả lựu dần trở thành biểu tượng cho hôn nhân và sinh sản, vòng quay sự sống. Nhờ ăn hạt lựu mà nữ thần Persephone mới có thể từ thế giới ngầm của Diêm vương mang mùa xuân trở về dương gian đất Mẹ.

Đi vào nhiều nền văn hóa, có nơi coi màu đỏ của hạt lựu là biểu tượng của huyết trinh nữ. Việc ăn lựu mang ý nghĩa về sự tiếp nhận OK9giaitri đăng nhập hôn nhân. Coi quả lựu là biểu tượng cho sự sung túc, công bằng và những việc làm tốt, màu sắc quả lựu được văn chương Do Thái giáo đặc tả người phụ nữ đẹp: “Môi thắm chỉ hồng, miệng duyên dáng, má đỏ hây hây màu thạch lựu thấp thoáng sau tấm mạng the”. Ấn Độ giáo quan niệm quả lựu tượng trưng cho khả năng sinh sản và sự đa dạng, phong phú nên được coi là lễ vật quý dâng lên nữ thần Durga - một hóa thân của Nữ thần Mẹ.

Quả lựu là một trong số ít trái cây biểu trưng may mắn trong Phật giáo. Truyền thuyết kể Đức Phật chữa cho quỷ dữ Hariti không còn thói quen ăn thịt trẻ em bằng cách cho nó ăn một quả lựu. Với văn hóa Ba Tư, quả lựu là biểu tượng của sự sống, sức sống và năng lực sinh sôi. Trong lễ cưới, cô dâu, chú rể sẽ được tặng một quả lựu với ý chúc vợ chồng thịnh vượng, sung túc, đông con nhiều cháu (nhiều như hạt lựu). Điều này góp phần lý giải, các tấm thảm tuyệt đẹp xứ Ba Tư cổ thường mang màu quả lựu và có nhiều những hình ảnh cây lựu hoa đỏ, quả sai lúc lỉu. Không chỉ thế, trên ngọn giáo của các chiến binh Ba Tư cũng luôn có hình những quả lựu vàng với ý cầu mong sự mạnh mẽ, nhanh nhẹn, may mắn…

Chiếm vị trí đặc biệt trong Kitô giáo, hình ảnh quả lựu gắn liền với tình thương lớn lao của Đức Mẹ Mary. Màu đỏ mọng nước của hạt gợi về tinh thần tử vì đạo của Đức Chúa. Không ít truyền thuyết Kitô coi trái lựu chính là Trái cấm trong Vườn Địa đàng mà Adam và Eva đã ăn để trở thành tổ tiên của con người trần tục. Lại có sách nói hành động mở lớp vỏ để nhìn thấy những hạt lựu long lanh như những hạt ngọc, là ẩn dụ về Cuộc khổ nạn của Chúa. Con người nói chung cũng vậy, để có kho báu (vật chất, tinh thần), phải có hành động mạnh mẽ, dứt khoát, có khi phải chịu đau đớn.

Nhiều vùng Kitô giáo lấy hình ảnh Chúa Hài Đồng cầm một quả lựu làm biểu tượng cho sự trù phú, sinh sôi. Lại có nhiều nơi coi hạt lựu tượng trưng cho sự đổi mới và tiếp tục nảy nở của cuộc sống thông qua việc chế biến một món ăn làm từ lúa mì cùng với hạt lựu. Có vùng dùng hạt lựu trong các nghi lễ chôn cất người thân để thể hiện lòng biết ơn, chia sẻ, tiếc thương, thấu cảm sự mất mát...

Yêu mến đến mức có quốc gia lấy tên quả lựu làm tên gọi cho địa danh. Tây Ban Nha có thành phố Granada, có nghĩa là quả lựu. Trong thành phố này, mô hình quả lựu được dùng để trang trí, mô phỏng ở đủ mọi sự vật có thể: đài phun nước, nhà thờ, trường học… Cổng thành phố cũng phải mang tên “Cổng quả lựu”, tất nhiên mang hình quả lựu. Hiện ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn giữ tục đêm giao thừa, người ta tách quả lựu với ý cầu mong năm mới được sung túc.

Là một trong những sự vật để nhận diện văn hóa Armenia, hình tượng quả lựu có ở mọi nơi chốn, trong các sách văn chương, trong hội họa, nhiều nhất trong kiến trúc chạm khắc tượng đá, cả ở gạch lát sàn... Các cửa hàng lưu niệm có hàng dãy những quả lựu gốm, kim loại, vải cùng những đồ trang trí, họa tiết hình quả lựu. Tượng trưng cho sự sinh sôi và may mắn, chống lại con mắt ác quỷ, trong đám cưới ở Armenia, cô dâu sẽ ném một quả lựu cho vỡ thành nhiều mảnh. Những hạt lựu tung ra mang ý nghĩa lan tỏa sự may mắn. Để có con trai, cô dâu sẽ ăn bánh mì có nhân hạt lựu.

image001.jpg -0
Cây lựu.

Có hình dáng như một cái đèn lồng đỏ - một sự vật gần gũi, được ưa chuộng, quý mến, quả lựu là một mã cơ bản trong văn hóa Trung Quốc, mà tái sinh là nét nghĩa cơ bản. Tiếp biến vào cả trong “Truyện Kiều” của ta với câu “Nước vỏ lựu, máu mào gà/ Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên”. Nhiều sách chép “thủ thuật” của nghề “thanh lâu” là giã vo lựu lấy nước, pha với máu mào gà để “rửa” thì trở về vẫn như “còn nguyên”. Tức “tái sinh”. Hẳn nhiên đấy là tín ngưỡng cổ xưa. Trong văn hóa Đạo giáo (Trung Hoa), quả lựu tượng trưng cho sự bất tử, thường được dâng lên các vị thần.

Xuyên suốt lịch sử cho đến tận ngày nay, quả lựu vẫn được người Trung Quốc coi là biểu tượng cho khả năng sinh sản, thịnh vượng. Lấy đó làm quà tặng các cặp vợ chồng mới cưới, trang trí trong lễ khánh thành, lễ động thổ… với ý nghĩa may mắn, sinh sôi, từ một hóa thành trăm (một quả có hàng trăm hạt). Trong quan niệm phong thủy, tượng trưng cho sự kiên cường, vững chãi, tài lộc; xua đuổi khí xấu, cây lựu được trồng trước nhà sẽ giúp gia chủ thu tài hút lộc, mang đến sức sống, điềm lành.

Hoa đỏ tươi thường nở vào tháng 5 âm lịch, nên trong văn chương lấy hoa lựu làm biểu trưng cho mùa hè. Người Việt coi lựu là loại cây quý phái, đáng kính trọng, những loại hoa bình dân, quê mùa “không cùng đẳng cấp”: “Có đâu sen, ấu một bồn/ Có đâu chanh, khế sánh phần lựu, lê”. Một triết lý “môn đăng hộ đối”, thẳm sâu thoáng một chút buồn. Lựu “xứng đôi” với cây đào, như cặp tình nhân: “Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo/ Lựu xa đào, lựu ngã đào nghiêng”. Quý phái vậy nên được nhân hóa như những người đẹp, nhất là cô nào có “hàm răng hạt lựu” (phương ngữ) thì càng nhiều anh trai mê: “Lựu lê anh cũng muốn trồng/ Hai em anh cũng thương đồng cả hai”; “Cây lê, cây lựu, cây đào/ Ba cây anh cũng muốn rào cả ba”. Một tiếng cười vui giễu những anh trai nào tham lam. Nhưng cũng lại là tiếng khen “lựu, lê, đào”, tức cả ba cô đẹp quá!

Hẳn nhiên hoa lựu nở đỏ trong thơ hiện đại. Bài “Trưa hè” của nữ thi sĩ Anh Thơ (Vương Kiều Ân) rất tiêu biểu cho phong cách trữ tình miêu tả thiên nhiên xứ Bắc khoáng đạt: “Trời trong biếc không qua mây gợn trắng/ Gió nồm nam lộng thổi cánh diều xa/ Hoa lựu nở đầy một vườn đỏ nắng/ Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua”. Bốn câu thơ vẽ lên bức tranh mùa hè với không gian viễn cảnh màu trời xanh biếc vô tận, bồng bềnh một đám mây trắng, điểm xuyết một cánh diều nhỏ xa xa. Cận cảnh là màu đỏ hoa lựu pha với màu của nắng, ngơ ngác một lũ bướm vàng. Luật viễn cận cổ điển nhưng sao vẫn thấy mới. Phải chăng nhờ tài năng hòa sắc ngôn ngữ vào không gian… (?!).

Nữ sĩ Xuân Quỳnh tả đảo xa qua những sắc hoa như kéo đảo ngoài biển về đất liền. Trong “Những bông hoa đầu tiên ra đảo” (tên bài thơ) có hoa lựu, tuy “ra” muộn nhưng thật ấn tượng: “Giờ mới thêm hoa lựu/ Như đốm lửa vừa nhen”.

Nhà thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa có bài thơ “Hoa lựu” (1967) kể lại quá trình trồng, chăm cây lựu: “Em trồng cây lựu xanh xanh/ Cuốc kêu chưa dứt mà cành đầy hoa/ Hoa lựu như lửa lập lòe…”. Tả cây lựu, hoa lựu, quả lựu để đi đến cái kết ca ngợi chú bộ đội bắn máy bay Mỹ: “Đêm về đạn chú bắn lên/ Đỏ như hoa lựu trên nền trời xanh”. Một liên tưởng bất ngờ, tinh tế, tả những đường đạn đỏ rực như những cánh hoa lựu khổng lồ đan lên trời để vít cổ những máy bay Mỹ. Nhưng dùng trạng ngữ “trên nền trời xanh” thì không chính xác, vì “đêm” thì “đen” chứ không thể “xanh” được. Tứ hay, hình ảnh gợi, mạch thơ hồn nhiên đã “che” đi nhược điểm này!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.