(Đọc tập thơ "Thức bước thời gian" của nhà thơ Bùi Kim Anh, NXB Hội Nhà văn, 2022)

Kim Anh thức bước thời gian

Bùi Kim Anh, sinh ngày 25/2/1948 tại quê lúa Thái Bình và chị gắn bó cả đời với mình Hà Nội. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, chị gắn bó với nghề dạy văn phổ thông trung học ở Thủ đô cho đến khi nghỉ hưu.

  • Tập thơ “Nhật ký trong tù” của Bác Hồ được dịch sang tiếng Uzbek
  • Bùi Quảng Bạ - trên đường “định vị” với tập thơ “Nhớ phù sa”

Song hành cùng nghề giáo là sự nghiệp văn chương. Ngoài tập tản văn “Sống chậm”, Bùi Kim Anh dành trọn vẹn hành trình sáng tác của mình cho thơ. Trình làng tập thơ đầu tay “Viết cho mình” năm 1995 và sau gần 30 năm chị là tác giả của 11 tập thơ. “Thức bước thời gian” dày 191 trang, với 120 bài thơ gắn với tập sách thứ 12.

image.png -0
Nhà thơ Bùi Kim Anh.

Điều dễ nhận thấy hầu hết các bài thơ đã chụm lại làm rõ chủ đề tập thơ “Thức bước thời gian”. Có thể nói thời gian là thông điệp chính nhà thơ muốn trải lòng khi đã chạm đến tuổi “thất thập ngũ niên”. Ý niệm thời gian từ cụ thể đến khái quát thể hiện từ nhan đề từng bài thơ, như: “Ánh hoàng hôn mùa đông”, “Buổi sáng nơi ngõ hẹp”, “Chỉ còn là đêm”, “Chiều Buôn Mê”, “Chiều nắng hạ”, “Chiều thứ 7”, “Cho một chiều dành lại”, “Chủ nhật với hoa cúc”, “Đêm Nha Trang”…

Nhà thơ đã quá nhạy cảm để nhận biết sự chảy trôi của thời gian: “Không viết cho mùa thu nữa/ ánh hoàng hôn mùa đông tím lịm/ những ngày tháng mùa đông sương mờ/ bài ca ánh mặt trời mang bốn mùa đi xa” (Ánh hoàng hôn mùa đông). Nhà thơ cảm nhận màu thời gian “thời gian đóng dấu màu chì lên thơ ta” (Chỉ có tiếng gió); biến đổi thời gian qua cảnh vật thiên nhiên “chiếc lá bàng như một chấm đỏ run rẩy… Khi những chiếc lá cuối năng quăn nếp nhăn rơi trên lối phố” (Chiếc lá cuối đông); “cây bàng đầu ngõ đợi sang lá đỏ” (Chiều thứ 7). Thời gian như “đang vội vã hoán đổi/ mùa vô tình và ta vô tình” (Đủ cảm giác ngày đông)… Chị quá nhạy cảm để nhìn lá cảm nhận dấu hiệu tuổi tác “bạn sẽ hiểu tuổi già/ khi bước chân nhức mỏi” (Chiếc lá cuối đông); “quanh ta có bao kẻ vô tình tự an ủi già rồi/ có ai nỡ trách người già” (Đủ cảm giác ngày đông)…

Sự an nhiên trước sự chảy trôi cuộc đời: “bình thản mùa đông gió lạnh về/ bình thản khẩu trang khoác áo ấm đi ra phố… ta ngồi bình thản trong căn nhà đóng cửa/ lo lắng nào ngoài kia” (Bình thản). Thơ chị chẳng né niềm đau, nỗi buồn “buồn ta già với bơ vơ gió mùa/ lẻ loi một mối buồn thừa” (Lẻ loi một mối buồn thừa). Nhà thơ đón nhận nỗi buồn cũng hết sức bình thản: “buồn ta âu đã mấy người/ cười thế khóc thì cũng thế” (Buồn ta âu cũng mấy người); “đánh thức buổi sáng bằng tiếng đàn piano gõ từng nhịp như đếm/ trẻ nhà bên không đi học tập đàn” (Buổi sáng ơi ngõ hẹp). Cũng có khi nhà thơ rơi vào tâm trạng hẫng hụt thời gian “viết mãi chưa hết cuộc đời/ ngã lại dậy đi / xóa rồi lại viết” (Đi mãi chưa hết căn nhà). Thơ có sự thảng thốt: “nghe được cả tiếng thì thầm mách bảo/ đợt lá rơi cuối cùng của mùa cây… chậm lại đi/ lẽ nào chiếc lá…”. Bài thơ “Đừng hẹn nữa ngày mai” là như một lời cầu khiến “chớ để ngày mai/ đừng hẹn nữa ngày mai”… An nhiên với đời kể cả khi “một bàn tay rất nhẹ / dắt đi” và điểm vịn tựa chính là thơ “làm thơ như ngồi thiền”…

Chân dung tự họa của người đàn bà thơ với nhiều trạng thái. Khi dịu dàng, đằm thắm “em nghĩ về mùa thu của em… em làm thơ trong giấc ảo một mình” (Đêm nơi thanh thản); lúc thanh thản bên “những bông cúc nhỏ và những bình hoa nhỏ” (Chủ nhật với hoa cúc); khi “thu tôi trong vạt váy hoa phô sắc lời vô duyên mắc lại” (Căn nhà cũ). Cô đơn như “đặc sản” thường trực với thi nhân “luẩn quẩn một ta tha thiết một ta” (Cho lời âu yếm cũ). Có lúc rơi vào tâm trạng mệt mỏi “người đàn bà kiên nghị trong ta mệt mỏi” khiến “câu thơ đã hồi phục rồi cũng đau” và “tiếng thở dài” dù “có khẩu trang che” (Chỉ có tiếng gió). Cũng có lúc thơ xót xa, trắc ẩn, thậm chí bế tắc “ai cũng bảo chết đi cho đỡ khổ” (Con nam mô gì nữa)…

Trong mọi tâm trạng, nhất là những lúc rối lòng nhất, thơ như người bạn tâm tình để thi nhân “Yên tĩnh làm thơ” (Chủ nhật với hoa cúc). Tự thấy “ta thuộc về thơ đâu cần trọn vẹn/ cứ để lời dở dang lơi lỏng nỗi niềm” (Câu kết bài thơ); “đi tìm suốt một đời cho thơ” (Cho thơ lời âu yếm cũ)…

Thơ chị khắc khoải tâm trạng, chứa chất bao nỗi niềm, buồn đau, nghịch cảnh… Nhưng bên cạnh đó là một tâm thế khác đầy nội lực vươn lên, chiến thắng nghịch cảnh khi chị trải lòng với Hà Nội, bạn hữu và những người thân yêu. Thơ chị vì thế luôn dào dạt cảm xúc. Hà Nội là một phần máu thịt “cho tôi chạm ký ức xưa Hà Nội” (Căn nhà cũ). Chị yêu Hà Nội thao thiết với vẻ trầm tĩnh, lắng sâu với “ly cà phê pha kiểu hôm nay/ nơi này không có dáng mẹ/ Hà Nội phố chật chột/ cà phê phố cổ lặng lẽ” (Cà phê phố cổ)… Bài thơ “Hà Nội ơi đêm lạnh” là tâm trạng chuyển mùa để thấy “Hà Nội vào đông yên ắng lạ… có một Hà Nội năm tháng bền lâu”...

1.jpg -0
Bìa tập thơ "Thức bước thời gian".

Thơ chị đậm tính Ok9cab Link Chính Thức trong cuộc chiến chống đại dịch COVID -19 với “Phiếu đi chợ”, “Phố giãn cách”, “Sau một đêm”… Chị có nhiều bài thơ ám ảnh về đại dịch đã làm xáo động cuộc sống bình thường “Hà Nội thức sau một đêm/ tinh mơ nháo chợ nháo siêu thị/ chẳng cần thịt sạch rau sạch…”. Nhà thơ quan sát “bên đường đôi người yêu không đeo khẩu trang nói gì khi bị phạt” (Phố giãn cách); chạnh buồn khi “công viên khóa lâu rồi/ không tỉa tót cỏ xanh màu cỏ dại…”. Những khái niệm giãn cách, cách ly cũng khiến thơ xáo trộn “thơ ơi sao đi không đợi… đã gần bao giờ mà cách ly/ thơ nhiễm dịch đâu mà nghi ngại”… Cầm “Phiếu đi chợ”, nhà thơ cảm nhận như “gọi nhau về với ngày xưa ấy” - cái thời bao cấp “rổ rá xếp hàng/ lo tem phiếu/ rau thịt chia…”. Dẫu bao bộn bề trong cuộc chiến căng mình đó thì thơ chị vẫn là chất Hà Nội đằm sâu, lắng đọng trong tâm hồn thơ giàu nội lực bởi “tháng Ba vẫn còn đó sắc xuân” (Sau một đêm); “những ngày vắng chợt nhớ thương con phố… phố giãn cách vẫn mua được bó cúc vàng đẫm màu nắng/ bó hoa trên tay có là cần thiết” dẫu “hôm nay chưa đến ngày rằm” (Phố giãn cách). Thời giãn cách mỗi người lắng chậm lại để yêu thương.

Thơ viết về cha mẹ luôn ấm áp như một nơi vịn tựa tin yêu “tôi là miếng cắt non từ mẹ/ sinh mệnh nhỏ nhoi thuộc về tôi từ đấy/ định hình/ vẽ một cung đường mẹ uốn tôi/ lưu nét cô đơn của mẹ/ tôi làm thơ” (Mẹ & tôi); “tóc bạc rồi con vẫn cần có mẹ… nén nhang này con thắp tới mẹ không/ quần áo bạc tiền đốt thành tro thưa mẹ” (Con nam mô gì nữa); “vọng về cha một nén tâm hương/ lời con gửi đêm nay/ nghĩa trang làng mờ hơi sương gió/ người con gái xa cha từ ngày ấy lọt lòng” (Gửi cha ngày thanh minh)…

Thơ chị có nỗi đau thế sự với tấm lòng bao dung, nhân ái, nhà thơ đồng cảm với người làm xe ôm, người gánh hàng rong, người Ok986 vip Thiên đường trò chơi già mài dao kéo…              

Là tập thơ thứ 11, Bùi Kim Anh đã định hình, thủy chung, vẹn nguyên tạo nên một phong cách sáng tác. Thơ chị mang cái tôi riêng, giọng điệu riêng độc đáo của một hồn thơ rất mực đàn bà vừa phóng khoáng lại vừa kín đáo, dung dị; vừa mạnh mẽ, bản lĩnh lại vừa dịu dàng, tinh tế; vừa có nỗi ẩn ức, nghi ngại, trắc ẩn, lại vừa có sự quyết đoán, trí tuệ, nhân hậu; vừa mang âm hưởng dân gian, lại vừa rất hiện đại…

Bùi Kim Anh làm nhiều thể thơ: thơ tự do; thơ 6 chữ (Buồn ta âu cũng mấy người); thơ 8 chữ; thơ lục bát (Lục bát hai câu, Chi bằng ta gọi mình hay)…

Làm thơ lục bát hay, nhưng không đơn giản nếu không nắm chắc vần luật, thanh điệu. Thơ lục bát Bùi Kim Anh khá độc đáo “bây giờ tôi dựa vào tôi/ hoàng hôn dựa vạt nắng rơi cuối chiều” (Lục bát hai câu)… Câu thơ rất gợi bởi hình ảnh đối lập “ta không ngủ khiến đêm phải thức” (Giấc đầu tiên của năm). Dù âm tiết trong một dòng thơ kéo dài, nhưng nhà thơ vẫn chú ý phối vần điệu, thanh điệu…

Ở các tập thơ trước, ngoài tập ĐI TÌM ĐI GIẤC MƠ (chữ in hoa), các tập “tóc trắng nắng mai”, “hình như mùa đã lỡ”, nhà thơ Bùi Kim Anh thường không viết hoa chữ đầu tên tập thơ; chữ mở đầu mỗi dòng thơ; hạn chế dấu câu, thì đến tập thơ “thức bước thời gian” hạn chế tối đa dấu câu; tên tập thơ không viết hoa; tên bài thơ chữ in hoa.

Xin chúc mừng nhà thơ Bùi Kim Anh với cuốn sách thứ 12:

Thất thập ngũ niên gieo mây trắng
Mười hai mơ thức gặt giấc mai.

Lê Thị Bích Hồng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.