Kiên định mà không gò bó

Đọc "Một thế kỷ thơ Việt Nam" của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Hà Minh Đức, NXB Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 Ok9 cab trò chơi casino phổ biến, 2012.

Hà Minh Đức viết rất đều và rất nhiều. Cho đến khi tự hẹn sẽ không viết thêm nữa, ông đã in 53 đầu sách, chưa kể những lần tái bản có sửa chữa, bổ sung. Sách của ông nói chung cuốn nào cũng dày dặn. Khác với nhiều nhà nghiên cứu chỉ chuyên chú một lĩnh vực, Hà Minh Đức cân đối cả văn lẫn thơ. Không những thế, ông còn mở ra tới OK9 thể thao xanh chín, kịch và lý luận chung. Là người đăng ký và được Giải thưởng Link Đăng Ký Đăng Nhập Nhà Cái OK9 Chính Thức rồi Giải thưởng Hồ Chí Minh bằng 12 cuốn nghiên cứu về văn xuôi nhưng ông cũng đã dành cho thơ đến 13 cuốn. Tỷ mẩn hơn một chút, sẽ thấy những cuốn sách được tái bản nhiều lần nhất của ông, phần nhiều là phê bình, tiểu luận về thơ.

Cũng cần nói thêm, đến nay, Hà Minh Đức đã có sách về hầu hết những nhà thơ lớn thời hiện đại, như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Bính, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ. Ông là người đã có vài chục năm rất chịu khó gặp gỡ, trò chuyện, ghi chép về các nhà thơ, nhà văn và gần như là người sáng tạo ra một lối nghiên cứu mới, đó là ghi lại một cách khách quan những ý kiến, những câu chuyện của những nhà thơ, nhà văn mà ông đã có dịp gặp. Trong hàng loạt chuyên luận tôi vừa kể, chỉ trừ Nguyễn Bính, còn các nhà thơ khác, ít nhất, Hà Minh Đức cũng đã từng gặp gỡ, trò chuyện vài ba lần. Những trang ghi chép đó vừa là thành quả nghiên cứu của ông, vừa là tư liệu cho những nhà nghiên cứu khác sau này. Ai nghĩ thế nào thì tùy, riêng tôi, tôi nghĩ rằng đó là những tư liệu sinh động, đáng tin cậy.

Cùng với "Thơ Việt Nam - Hình thức và thể loại" (1968), "Thơ và một số vấn đề trong thơ hiện đại" (1974), cuốn "Một thế kỷ thơ Việt Nam" được coi là tập cuối trong bộ ba khảo cứu về thơ Việt của Hà Minh Đức. Nếu những cuốn trước đi vào những vấn đề về hình thức, thể loại thơ trong truyền thống; một số vấn đề về nội dung và hình thức thơ hiện đại thì cuốn này nghiêng về văn học sử, mang tính tổng kết thơ Việt Nam thế kỷ XX và một số suy nghĩ của tác giả về hướng đi của thơ Việt trong tương lai.

Để đánh giá thành quả nghiên cứu thơ của Hà Minh Đức, trước hết cần bàn một chút về phong cách nghiên cứu, phong cách văn của ông, một vấn đề cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Hà Minh Đức đi dạy học khi còn khá trẻ và cho đến những năm ngoài bảy mươi tuổi, ông vẫn còn trên bục giảng. Khi không còn trên bục giảng nữa, Hà Minh Đức vẫn tiếp tục Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP nghề giáo của mình. Ông hướng dẫn nghiên cứu, tham gia các buổi hội thảo về Ok986 tải ứng dụng, viết sách chủ yếu dùng trong nhà trường. Nghĩa là ông vẫn là một thầy giáo, Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP chính suốt cuộc đời là Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP của nghề giáo. Không biết có giống những nghề khác không nhưng tôi thấy dấu ấn nghề nghiệp của nghề giáo thường in đậm vào lối sống, cách suy nghĩ, văn phong của nhiều người khá rõ, nhất là nhà thơ, nhà văn, các nhà phê bình, nghiên cứu văn học. Trong phê bình, nghiên cứu văn học, có thể kể những người tôi biết khá kỹ như Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Lê Đình Kỵ hay một vài người khác ở bên Đại học Sư phạm…Nét chung của họ là sự chừng mực, có phần ôn hòa, nói năng rào trước đón sau kỹ lưỡng nhưng đã thế nào thì như thế đến cùng, ít thay đổi. Các OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á của Hà Minh Đức có nét chung ấy, tuy cũng có nét khác do ông còn là người sáng tác nên phần nào có sự tinh tế, bay bổng, chia sẻ mà chỉ người sáng tác mới có.

Về cách chọn người để nghiên cứu, từ những năm bảy mươi, ông có nhiều bài viết, thậm chí sau này còn có cả một cuốn chuyên luận về Tố Hữu, khi đó nhà thơ này còn trên đỉnh quyền lực và vinh quang. Vì những lời khen khá nồng nhiệt với Tố Hữu, có người gán cho Hà Minh Đức nhiều điều có phần nặng nề. Nhưng cũng ngay từ ngày ấy, bên cạnh nhiều lời khen, Hà Minh Đức vẫn viết những dòng chê, tuy không gây sốc cho người đọc. Đến nay, khi Tố Hữu đã khuất bóng và ai đó đã "quay mặt" với thơ ông như thể phải như thế mới "hợp thời" thì Hà Minh Đức vẫn thủng thẳng, chừng mực bình phẩm đời thơ Tố Hữu, cả phần tót vời lẫn những chỗ chưa tới (văn chương nước ta, nhiều khi a-la-xô, bình phẩm khen chê theo phong trào, điều này xin phép được nói khi khác)… Như thế là có bản lĩnh tuy không phải lúc nào cũng dễ nhận ra. Văn phong của Hà Minh Đức cũng không phải loại gây sốc. Hình như ông ít chú ý nhấn mạnh những cái mới, nhất là những cái mới của riêng mình nên đọc ông cứ đều đều, nghiêm cẩn giọng văn nghiên cứu, trong một bài cũng thế, giữa các quyển sách cũng thế. Tìm được những nét mới, nét khác lạ thường lẩn kín trên trang văn của Hà Minh Đức không phải dễ dàng. Nhưng đọc kỹ, nhìn tổng thể, Hà Minh Đức có một nét rất quí, đó là thái độ khách quan, không thiên vị, yêu nên tốt ghét nên xấu khi nhìn nhận một số vấn đề trong thơ ca cũng như nền thơ ca của nước ta. Ông nhiệt thành ủng hộ cái mới, cái trăn trở để đổi mới thơ; và tin vào tương lai của thơ nói chung cũng như thơ Việt nói riêng, ngay vào lúc người ta đang hoang mang về số phận thơ trong OK9giaitri đăng nhập hiện đại.

Tuy đã nhiều lần nói về lịch sử phát triển của thơ ca Việt trong các chuyên luận khác, nhưng chỉ đến "Một thế kỷ thơ Việt Nam", Hà Minh Đức mới có điều kiện để dành hẳn 400 trang sách bàn về lịch sử hình thành và phát triển của thơ ca Việt Nam . Bàn về lịch sử thơ Việt Nam cũng là bàn về lịch sử phát triển của văn học Việt Nam, hoặc dè dặt ra thì cũng là hầu hết những vấn đề của văn học Việt Nam nên Hà Minh Đức chuẩn bị khá kỹ, cả về tư liệu lẫn các quan điểm. Về các giai đoạn thơ, Hà Minh Đức không phân kỳ thơ theo các dấu mốc lịch sử mà chủ yếu bám sát theo sự phát triển của thơ. Ông thường lấy các tác giả tiêu biểu làm mốc cho sự phân chia giai đoạn. Nhưng dù cách chia giai đoạn như thế nào, người đọc vẫn quan tâm đến cách đánh giá về từng giai đoạn và các tác giả tiêu biểu trong giai đoạn ấy là chính. Ngoài hai chương đầu khoảng hơn 60 trang dành cho những đánh giá tổng quát và giai đoạn từ thời kỳ có tư liệu về văn học thành văn đến năm 1930, đã được nghiên cứu nhiều và cũng đã thống nhất trên nhiều bình diện căn bản, Hà Minh Đức dành hơn 330 trang (kể cả phụ lục minh họa) cho giai đoạn 70 năm sau, với bối cảnh cuộc cách mạng long trời lở đất tháng 8/1945, hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ và từ 1975 đến nay.

Hà Minh Đức đã đề cao Thơ Mới, coi đó là "giai đoạn hưng thịnh và hoàn thiện quá trình hiện đại hóa thơ". Nghiên cứu về giai đoạn này, ông đã dành nhiều trang cho từng tác giả tiêu biểu, từng mặt đóng góp của Thơ Mới cả về nội dung lẫn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Tuy nhiên, Hà Minh Đức luôn xếp thơ ca cách mạng giai đoạn 1930 - 1945 là một dòng riêng của thơ Việt Nam hiện đại bên cạnh Thơ Mới, với những tác giả tiêu biểu của dòng này như Tố Hữu, Xuân Thủy, Trần Huy Liệu, Sóng Hồng… Ông thừa nhận ảnh hưởng qua lại giữa hai dòng thơ như một thực tế khách quan mà Tố Hữu là một trường hợp tiêu biểu, nhưng cũng có nhận xét: "Tuy nhiên, chính Tố Hữu cũng tiếp nhận trực tiếp ảnh hưởng của thơ Pháp với những tác giả mà ông yêu thích… Ở tuổi thanh niên, thơ Tố Hữu là sự hòa hợp của những yếu tố cơ bản: Tuổi trẻ, thi ca, cách mạng. Và riêng với thơ, ông đã hòa nhập với quá trình hiện đại hóa". Đây là một nhận xét đáng chú ý.

Một trường hợp khác Hà Minh Đức dành nhiều trang viết cho  tác phẩm thơ "Nhật ký trong tù" viết bằng chữ Hán của Hồ Chí Minh. Qua phân tích những thành quả của tập thơ này, ông đi đến kết luận: "Thơ ca cách mạng 1930-1945 chỉ phát hành trong bí mật nhưng ở bước phát triển cao hơn thời kỳ trước về tư tưởng và Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026". Kết luận này lâu nay vốn chỉ dành cho phong trào Thơ Mới mà thôi.

Cũng trong quá trình nghiên cứu thơ giai đoạn 1930-1945, Hà Minh Đức đã nhận định: "Phải thấy rõ Thơ Mới có công trong việc phát triển  thơ Việt Nam ở chặng đường hiện đại, song không thể tạo ra chuẩn mực vĩnh viễn cho mọi thời đại. Bước sang thời kỳ lịch sử mới… thơ ca cũng phải có những sáng tạo mới, thích hợp với bước đi của Ok9 cab trò chơi casino phổ biến". Và ở một đoạn khác: "Thơ Mới đã đi hết con đường của mình". Những nhận định này không giống một quan niệm lâu nay là trong thế kỷ XX, chỉ có 2 cuộc cách tân thơ, đó là phong trào Thơ Mới và thơ của nhóm Sáng Tạo ở miền Nam trước năm 1975. Mọi đổi mới thơ ca trong thế kỷ XX chỉ là phần "vĩ thanh" của 2 trào lưu thơ này.

Hà Minh Đức cũng là người nhiệt tình ủng hộ đổi mới thơ ca, tin vào tương lai của thơ Việt trong bối cảnh văn hóa đọc đang khủng hoảng: "Thơ Việt Nam hiện đại đang phát triển. Cái gốc của vấn đề chính là tình yêu đối với thơ của nhân dân vẫn đậm đà tha thiết… Có thể có những người say mê, đắm đuối với cái mới, cái lạ sẽ không còn ưa thích nhưng thơ vẫn tồn tại, từ cội nguồn, số đông vẫn bảo vệ cho thơ phát triển". Để chứng minh cho quan điểm này, ông đã dẫn ra hơn một tác giả mới, xu hướng mới vừa đa dạng vừa táo bạo để đổi mới thơ. Tuy mới là niềm tin, chưa có nhiều minh chứng, nhưng niềm tin của Hà Minh Đức có sức thuyết phục vì nó kết tinh những chiêm nghiệm suốt nửa thế kỷ nghiên cứu, thể hiện bản lĩnh của một cây bút già dặn và đó là lời nói không thể không tin là thật ở một người không có gì cần phải nói dối, phải "diễn" nữa.

Để kết luận bài viết này, tôi cũng nghĩ như Chế Lan Viên trong bài tựa cho tập sách "Thơ và một số vấn đề trong thơ hiện đại" viết năm 1974 rằng dù không phải đã "tán thành tất cả những điều viết ra trong sách… nhưng cái điều quan trọng là đường hướng chung của tập sách đã phù hợp với sự suy nghĩ của mình". Và (đây cũng là ý của Chế Lan Viên): "Có thể gọi tập sách của anh Hà Minh Đức đã đưa ra một lý luận ta chấp nhận được, có thực tiễn, có đấu tranh, đứng vững trên quan điểm của mình mà không gò bó hẹp hòi, bao quát xa mà không rối rắm. Đọc xong tập sách, ta càng tin vào khả năng của Thơ hơn giữa lúc nhiều nơi muốn báo tử nó"

Hà Nội, 23/9/2012

Vũ Duy Thông

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.