Khúc tự sự ngọt ngào, sâu lắng

Nhân đọc khúc I bài thơ "Trò chuyện với thành phố của đời mình" của Bằng Việt.

Tôi có những ước mơ trên thành phố cũ
Những ngôi sao của tuổi chín mười
Sau hai mươi năm
Chúng vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngăn ngắt 

Lá bàng non ngày ấy đỏ lạ lùng
Ước mơ chín, ngỡ chừng ăn thấy ngọt
Bàng vàng ươm rụng đầy lối đi
Người bạn gái nói với tôi một điều gì thật vội
Thuở màu phượng dễ làm say, cánh bướm dễ làm duyên 

Thành phố tuổi hoa niên, thành phố ấy là em
Em với màu áo hoa mơ, chân trần trên cỏ ướt
Đứng thảng thốt reo lên, bên bờ sen ngập nước
"Trời ơi! Buổi sớm quá chừng thơm" 

Không bao giờ tôi quên
Em đã khắc hương sen ngày ấy vào vĩnh cửu
Tôi chưa hề biết yêu em
Chỉ biết yêu thành phố
Trong ánh xanh lạ lùng buổi ấy dâng lên
 

Vào những năm đầu thập niên sáu mươi, Bằng Việt xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một ánh đèn nê-ông kỳ ảo, tỏa ánh sáng trí tuệ, sự mát mẻ của tuổi xuân và cái dịu dàng của hồn thơ anh. Với những câu thơ xúc cảm tinh tế, chữ nghĩa lóng lánh, độc giả ấn tượng về anh như về một nhà thơ trẻ lịch lãm, tài hoa. Công bằng mà nói, cho đến hôm nay, nhiều câu trong số ấy dường như vẫn giữ được sự tươi nguyên, vẫn "nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngăn ngắt", vẫn "làm say", "làm duyên" như sắc phượng hôm xưa, cánh bướm năm nào, khơi gợi vẻ trong trắng một thời.

Thiếu nữ Hà thành bên Hồ Gươm.
Thiếu nữ Hà thành bên Hồ Gươm.

"Trò chuyện với thành phố của đời mình" là một bài thơ dài gồm 7 khúc, tác giả viết từ năm 1974 đến 1978, thời điểm cuối chiến tranh tới những năm đầu hòa bình. Bài thơ như một bản giao hưởng nhiều bè, là một cách đối thoại, một cách "trò chuyện" tâm tình của nhà thơ với Hà Nội - thủ đô mến yêu của chúng ta.

Khúc mở đầu với chủ đề "ban mai thành phố" được mở ra với không gian thanh sạch, bối cảnh êm ả, chỉ tác giả đối diện với mình. Treo ngay đầu bài là những ước mơ ngang tầm các ngôi sao:

Tôi có những ước mơ trong thành phố cũ
Những ngôi sao của tuổi chín mười
Sau hai mươi năm
Chúng vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt xanh ngăn ngắt

Thì ra, cái khao khát của tâm hồn làm cho ngôi sao  hóa thành chén nước, nhưng chính cái trong trẻo, đam mê lại là yếu tố giữ cho chén nước ấy mãi mãi đầy. Chỉ có cách nhìn đời bằng đôi mắt "xanh non" (thơ Xuân Diệu: Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non) mới có thể khiến nhà thơ ngỡ ngàng trước một: "Lá bàng non ngày ấy đỏ lạ lùng", để rồi ngộ nhận: "Ước mơ chín ngỡ chừng ăn thấy ngọt...".

Thơ Bằng Việt ở bài này (cụ thể là ở mấy khổ thơ này) có một đặc điểm: Câu thơ trải dài cùng việc mở rộng hình ảnh và ý thơ, tuy nhiên tác giả đã thu xếp không thả cho ý thơ "chạy rông". Đây chính là yếu tố góp phần tạo nên sự duyên dáng của lời thơ (vì đa phần sự duyên dáng của thi phẩm thường được cấu thành trên cơ sở điệu thơ cởi mở nhưng ý thơ kín đáo). Tác giả viết: "Người bạn gái nói với tôi một điều gì thật vội". Anh nhớ cái chi tiết thật vội ấy chứ không hẳn nhớ người bạn gái ấy đã nói với anh điều gì. Cũng như khi viết: "Thuở màu phượng dễ làm say, cánh bướm dễ làm duyên", câu thơ có cái sóng sánh, chao đưa, nhưng rồi ý thơ đậu lại ngay, và tất cả chỉ dừng ở đấy, đến thế. Tác giả không triển khai thêm, không nói say kiểu gì và làm duyên thế nào. Câu thơ có vẻ điệu đàng này chính là một câu bình luận cho nói điều gì, thật vội phía trên.

Dễ hiểu, bấy giờ họ có đam mê, nhưng là kiểu đam mê hướng tới ngoại vật, thế giới bên ngoài. Tuổi hoa niên Xuân Diệu từng có lúc bộc bạch: "Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá", nhưng lại là cái "ngu ngơ": “Chỉ biết yêu thôi, chẳng biết gì”. Ở đây thì rõ ràng, như tác giả "Trò chuyện với thành phố của đời mình" đã tiết lộ rồi: "Tôi chưa hề biết yêu em/ Chỉ biết yêu thành phố" (đây là đặc điểm tâm lý lứa tuổi, trừ trường hợp ngoại lệ. Một cây bút trẻ, ở vào tuổi 16, 17 đã nhận  xét về cái tuổi này: Tuổi biết thương đời, chưa biết thương thân)... Cái ban mai của trời đất đã gặp ban mai của tâm hồn, phút giao hòa này đã tạo nên bức tranh tuyệt diệu mãi mãi khắc sâu trong tâm trí tác giả.

Trò chuyện với thành phố, có lẽ với trích đoạn I, hai khổ đầu có tính chất như khúc dạo đầu, từ khổ 3 trở đi dường như mạch thơ mới hút vào chủ đề chính. Và tuy mạch thơ đi "lướt lướt", các hình ảnh vẫn xuất hiện theo lớp lang, trình tự. Thành phố rồi đến em; Em - màu áo hoa mơ; Em -  chân trần trên cỏ ướt; Em- đứng thảng thốt reo lên... - đến đây tác giả kìm lại chưa để em thốt lên ngay. Sự xúc động phải để tay ôm ngực, ngưng lại một chút chứ (chi tiết này dễ để ta liên hệ tới một chi tiết trong thiên truyện "Lẵng quả thông" của Pauxtốpxki) - tác giả cho chen vào một câu đề dẫn (như sự ghi chú): Bên bờ sen ngập nước, rồi mới tiếp tục gài xuống dòng dưới câu cảm thán: "Trời ơi buổi sớm quá chừng thơm!". Bao nhiêu sự hồi hộp, dồn nén, tác giả biết lưu giữ chọn khoảnh khắc để "bung" ra, tạo dư âm cảm xúc khá mạnh.

Viết về thành phố, về ban mai thành phố, Bằng Việt đã đem hết sự trong trẻo, tinh tế của tâm hồn mình để cảm nhận. Cảnh vật hiện lên, sáng lên từng mảng dưới bước chân nàng thiếu nữ. Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của Nêruđa (nhà thơ Chilê) viết về khoảnh khắc này:

Em đi qua, xếp đặt, hỡi con ong rung động của anh
Những vùng nào em động tới sẽ thoát ra ngoài bóng tối
Và nghị lực sáng sủa của em đã đem về ánh mới
Đúng là, dưới bước chân em, ánh mới đã hiện về.

Em vô tình như người nhạc trưởng điều khiển trời đất- khi tay em giơ cao, tiếng em thốt ra, thì lập tức "Ánh xanh lạ lùng buổi ấy dâng lên", thành phố ban mai tràn ngập. Hình ảnh thân thương mà có phần kỳ vĩ ấy đã nhanh chóng được tác giả chụp ghi vào tâm trí: "Không bao giờ tôi quên/ Em đã khắc hương sen ngày ấy vào vĩnh cửu/ Tôi chưa hề biết yêu em/ Chỉ biết yêu thành phố/ Trong ánh xanh lạ lùng buổi ấy dâng lên...".

Như trên đã nói, "Trò chuyện với thành phố của đời mình" là một bài thơ dài. Tiếc rằng vì thế mà tôi không thể dẫn hết ra đây được, mặc dù ở khúc này, khúc khác vẫn có những đoạn, những câu nhiều xao xuyến, xao xác. Tuy nhiên, vì bài thơ được chia thành nhiều mảng tách bạch, tôi xin được "cắt" riêng mảng này. Dù sao tôi vẫn cho rằng, ở mảng này, sự việc không nhiều, chi tiết OK9giaitri đăng nhập có chọn lọc, không bề bộn, không át phần tâm tình, tác giả có lẽ đã "trò chuyện với thành phố của đời mình" một cách kiệm lời mà lại được nhiều hơn cả

Phạm Nhật Linh

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.