Khói trời mênh mông...

Có lẽ, trong ký ức tuổi thơ của nhiều người, đặc biệt những người sinh ra và lớn lên ở nông thôn, làn khói bếp của buổi sáng sớm và chiều hôm có một sức ám ảnh đặc biệt. Còn nhớ mỗi buổi sớm tinh mơ, chính làn khói bếp từ tay mẹ nhóm lên đã đánh thức chúng ta, khi mẹ đun ấm nước đầu tiên để pha trà cho bố, rồi chuẩn bị đồ ăn sáng cho ta tới trường...
  • Ký ức tuổi thơ
  • Ký ức tuổi thơ và làng quê năm ấy

1.Rồi buổi trưa hoặc nhất là khi chiều về, nhìn thấy khói bay lên từ bếp nhà mình, bụng bắt đầu hơi đói, ta biết rằng mẹ lại đang làm bữa cơm chiều và lòng trẻ thơ thật háo hức không biết sẽ có món gì trong bữa cơm sắp tới. Thế nên nhà thơ Bằng Việt khi nhớ về tuổi thơ, bếp lửa với những làn khói đã trở thành hình tượng sâu đậm, khắc khoải gắn với bao yêu thương của người bà.

Những ngọn khói như một hình ảnh đẹp xuyên suốt từ phần mở đầu tới phần kết thúc tác phẩm: “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm/ Một bếp lửa ấp iu nồng đượm/ Cháu thương bà biết mấy nắng mưa/ Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói (...) Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu/ Có lửa trăm nhà niềm vui trăm ngả/ Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở/ Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa...”.

 Làn khói trên những nếp nhà còn bắt gặp trong thi phẩm nổi tiếng “Mùa xuân chín” của Hàn Mặc Tử, ta ngỡ ngàng như không thể phân định đây là khói bếp hay sương khói mùa xuân: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan/ Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng/ Sột soạt gió trêu tà áo biếc/ Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang...”. Làn khói của tâm trạng, của sự gửi gắm những nỗi niềm còn bắt gặp trong ca dao: “Ai làm cho khói lên trời/ Cho mưa xuống đất cho người biệt ly/ Ai làm cho Nam Bắc phân kỳ/ Cho hai hàng lệ đầm đìa tấm khăn”.

Khói bếp của mẹ. Ảnh chỉ có tính minh họa.
Khói bếp của mẹ. Ảnh chỉ có tính minh họa.

2. Một loại khói rất gần với khói bếp là khói sương. Nếu như khói bếp có thể mang hai màu sắc là màu trắng đục hoặc đen xám thì khói sương luôn là một màn trắng trong, gây nên một nỗi bảng lảng vô định mơ hồ. Cái mênh mang của khói sương ấy dễ được ký thác những tâm trạng man mác hoặc bơ vơ của con người. Trong những thi sĩ của phong trào Thơ Mới, chính Hàn Mặc Tử là người đã để lại những câu thơ sương khói ấn tượng nhất: “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà” (Đây thôn Vỹ Dạ), “Sao không tô điểm nên sương khói/ Trong cõi lòng tôi buổi chập chờn” (Cuối thu).

Sương khói trong những câu thơ của Hàn Mặc Tử mang đến cho ta nỗi ngậm ngùi bởi hạnh phúc tuột khỏi tầm tay với của một tâm hồn chứa đầy khát khao nhưng càng lúc càng rơi vào vô vọng. Cái bảng lảng và cảm giác không thể nắm bắt được của khói sương còn đi vào ca từ những ca khúc nổi tiếng: “Đời như sương khói, mơ hồ trong bóng tối. Em đã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi riêng một góc trời” (Riêng một góc trời - Nhạc và lời: Ngô Thụy Miên), “Âm ba thoáng rung cánh đào rơi/ Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời” (Thiên thai - Nhạc và lời: Văn Cao). Trong câu hát của tuyệt phẩm Thiên thai, sương khói còn được xem như một hình ảnh đặc trưng của cõi tiên thanh khiết, khác hẳn với cõi trần phàm tục.

3. Nếu như khói sương đặc trưng cho không gian đất liền, thì khi tìm đến những không gian của sông nước, chúng ta có thêm thi ảnh “khói sóng”. Khói sóng (âm Hán Việt: yên ba) có thể xem là một hình ảnh cực kỳ quen thuộc trong văn chương cổ điển.

Khói sóng có lúc gợi nên nỗi nhớ nhà, nhớ quê như trong câu thơ Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai - Tản Đà dịch). Khói sóng có lúc gợi nỗi ngậm ngùi buồn thương ly biệt như trong câu thơ Bạch Cư Dị: “Bất túy Tầm Dương tửu/ Yên ba sầu sát nhân” (Chẳng say chén rượu Tầm Dương/ Khỏi sao khói sóng buồn thương chết người) (Tản Đà dịch).

Trong thơ Việt thời trung đại, khói sóng còn gợi sự ẩn dật tịch mịch lánh đời của kẻ sĩ trong thời loạn: “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn/ Yên ba thâm xứ hữu ngư châu” (Thế sự thăng trầm người chớ hỏi/ Miền sâu khói sóng có làng câu - “Uống rượu tiêu sầu II” - Cao Bá Quát). Và đến đầu thế kỷ XX, khói sóng một lần nữa lại hiện ra trong thơ Bác với một phong vị mới, không phải là sự xuất thế ẩn mình mà là sự nhập thế của một nghệ sĩ - chiến sĩ, đồng hành cùng cuộc kháng chiến trường kỳ của quê hương: “Yên ba thâm xứ đàm quân sự/Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền (Dòng sâu khói sóng việc quân/Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền - Nguyên tiêu).

4. Một loại khói khác có "quy mô" nhỏ nhắn hơn, đó là khói thuốc. Trong OK9giaitri đăng nhập và thi ca của người Việt, khói thuốc chia làm hai loại cơ bản là khói thuốc lá và khói thuốc lào. Thuốc lào du nhập vào Việt Nam trước thuốc lá, vì thế ta có cảm giác tính bản địa của thuốc lào cao hơn, cũng bởi thuốc lào còn xuất hiện cả trong ca dao: “Nhớ ai như nhớ thuốc lào/ Đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.

Nhiều tác gia từ thời trung đại đến hiện đại đều có đưa thuốc lào vào thơ như Tú Xương, Nguyễn Bính, Lưu Quang Vũ nhưng phải cho tới Nguyễn Duy thì ta mới được thưởng thức những vần thơ trực tả một cách toàn diện về làn khói thuốc lào: “Sớm mai đánh bệt trước thềm/ Đứ đừ phun khói thuốc lên tận trời/ Cha tôi mất đã lâu rồi/ Tôi về ngồi chỗ cha ngồi năm nao/ Rít còi phụt khói rõ cao/ Người lao đao đất lao đao lờ đờ/ Nước chè tươi rót vàng mơ/ Đôi khi hạnh phúc đơn sơ vô cùng/ Tôi qua lắm núi nhiều sông/ Khói ngày xưa ám trong lòng còn cay/ Ngẩng đầu đưa khói vào mây/ Nghênh ngang hiền triết điếu cày thăng thiên” (Thuốc lào).

Những dòng lục bát tự nhiên, phóng túng vừa hiện lên trước mắt ta một thú vui rất bình dị của người lao động, vừa gửi gắm những nỗi niềm kỷ niệm với người cha, vừa có cả chất lãng tử bất cần của kẻ "đạt đạo" với hạnh phúc do thuốc lào mang lại. Còn với khói thuốc lá, thi sĩ Hồ Dzếnh là người tiên phong đưa vào thơ, thi vị hóa nó cùng bước chân người lữ khách trong buổi chiều nhớ nhà với một phong thái không kém phần lãng tử: “Tôi là người lữ khách/ Màu chiều khó làm khuây/ Ngỡ lòng mình là rừng/ Ngỡ hồn mình là mây/ Nhớ nhà châm điếu thuốc/ Khói huyền bay lên cây” (Chiều).

Khói lam chiều mênh mông trong khung cảnh làng quê Việt.
Khói lam chiều mênh mông trong khung cảnh làng quê Việt.

Bài thơ đã được nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ nhạc thành ca khúc nổi tiếng của thời tiền chiến. Câu thơ có làn khói thuốc cũng đồng thời là lời ca kết thúc tác phẩm được xử lý với cao độ vút lên ở chữ "khói" khiến cả không gian vừa như mơ màng lãng đãng vừa hòa vào cùng mây gió...

Cùng một "trường phái" với khói thuốc nhưng lại được mở rộng về "quy mô", phải kể đến khói lửa trong chiến tranh. Trong chiến tranh cổ điển, làn khói nhiều khi được tạo ra như một tín hiệu quan trọng, thể hiện mưu kế sách lược giương Đông kích Tây của người cầm quân.

Nhiều người hẳn còn nhớ trong bộ tiểu thuyết lịch sử lừng danh Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, quân sư Khổng Minh đã bày mẹo cho Quan Vũ đốt lửa tạo khói ở đường hẻm Hoa Dung để dụ Tào Tháo đến. Binh pháp có câu "hư hư thực thực", Tào Tháo quả nhiên mắc mưu, vì nghĩ: "Gia Cát Lượng khôn ngoan, cho nên sai người đốt lửa ở sườn núi hẻo lánh để ta không dám đi qua núi, rồi phục binh sẵn ở đường lớn. Ta đã biết tỏng rồi, khi nào còn mắc mẹo hắn" (trích hồi thứ 50: Gia Cát Lượng khéo tính đường Hoa Dung/ Quan Vân Trường vì nghĩa tha Tào Tháo).

Trong ca khúc thời chiến của Việt Nam, bài hát có hình ảnh khói lửa xuất hiện như một biểu tượng ngay từ nhan đề phải được kể tới là bản hùng ca “Bình Trị Thiên khói lửa” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương: “Hướng về Nam! Ai đã qua đèo Nang đã sang Ba Rền. Mến dòng sông Gianh biết danh Lũy Thày. Giờ đây lửa cháy ngút trời máu nhuộm đồng xanh...”.

5. Viết đến đây, tự dưng tôi lại vẩn vơ nghĩ, hành trình của mỗi đời người hình như cũng đều gắn với các loại khói và có thể xem khói như những biểu tượng cho các khoảng thời gian khác nhau. Khi còn nhỏ lúc ấu thơ thì gắn với khói bếp, lúc lớn lên có chút lãng mạn chính là khói sương, thêm những hò hẹn yêu đương chờ đợi thì hầu hết các chàng trai đều có tí khói thuốc, nếu thêm chút giang hồ mênh mang diệu vợi sẽ là khói sóng, đời chẳng may gặp phải thời loạn khi chiến tranh thế nào cũng có khói lửa.

Và rồi, lúc khép lại cuộc đời chính là... khói hương. Đối với những người đang sống, khói hương được lựa chọn như một tất yếu khi mỗi chúng ta nhớ về những người thân yêu nay đã không còn. Những câu lục bát đầy xúc động trong bài “Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa” của Nguyễn Duy đã mở ra một không gian khói nhang như thế: “Bần thần hương huệ thơm đêm/ Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết Bàn/ Chân nhang lấm láp tro tàn/ Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào”.

Và nhà thơ Trần Đăng Khoa khi nói về sự khép lại một cuộc đời trần gian cũng dùng khói như một biểu tượng của siêu thoát: “Bao năm ròng mệt mỏi/ Xuống xứ này rong chơi/ Giờ ta làm ngọn khói/ Õng ẹo bay về trời”. Nhưng dù thế nào đi nữa thì trong từng sát na của OK9giaitri đăng nhập, nếu ta còn một hơi thở vẫn hãy yêu thương và say đắm với cuộc đời: “Ta về nơi đây thoáng nghe gió lạnh/ Hết mùa thu sang đã đến ngày đông/ Những hàng cây xanh đón em áo lộng/ Bây giờ ta nhìn khói trời mênh mông... (Khói trời mênh mông - Trịnh Công Sơn).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.