Khẩu khí văn chương

Ngày trước, trong môi trường văn hóa “Văn dĩ tải đạo” (Văn chương chuyên chở đạo lý) nên người ta chuộng lối văn “tỏ chí”, “tỏ lòng”. Đọc văn mà thấy cái khát vọng dời non lấp biển là đoán được ngay đó là văn của bậc quân tử. Ngược lại khí văn ủy mị, lả lướt, buồn bã thì đó là thứ văn phải tránh xa vì nó “gieo” cái “sái” vào người. Điều này cũng phần nào lý giải vì sao “Truyện Kiều” hay thế mà vẫn nhiều người chê, mỉa mai đó là thứ văn “phấn sáp”, kể chuyện “con đĩ”...

  • Tại sao ta đọc văn chương kinh điển?

Khẩu khí văn chương là khí phách, ý chí, hoài bão của con người toát ra trong lời văn. Mà ai cũng đều muốn con mình lớn lên có chí để làm quan, nên nhiều người cổ súy cho lối văn chương “đại ngôn”, “hô mưa gọi gió”... Xét kỹ, khi cần, lúc cần văn chương phải có “khẩu khí” để “tỏ chí” nhưng bị lạm dụng sẽ là trở lực cho cách tân, đổi mới, tạo ra nhiều cái “khuôn”. Bệnh “công thức”, “sáo”... có từ đấy! Lại thêm quan niệm “thuật nhi bất tác” (kể lại chứ không làm mới) quen mượn giọng “thánh hiền” cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến bệnh nhạt, cứ na ná nhau. Nhưng văn chương có quy luật đào thải riêng, chỉ giữ lại những gì có giá trị. Xin bàn góp về “khẩu khí văn chương” còn mãi cùng thời gian với tư cách là bài học về Ok986 tải ứng dụng nhân cách làm sao cho cứng cỏi, mạnh mẽ, không chịu khuất phục trước bạo lực, cường quyền!

Trước hết là tư tưởng đề cao con người, thường là chủ thể trữ tình được nâng lên ngang tầm vũ trụ, có thể xoay vần tạo hóa biểu hiện ý chí “dọc trời đất, dọc ngang ngang dọc”. Thời còn để chỏm cậu bé Uẩn học ở chùa, một lần bị phạt ngủ ngoài tam quan. Cậu liền làm bài thơ: “Trời làm màn gối, đất làm chiên/ Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên/ Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi/ Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng”. Thành ngữ dân gian “màn trời chiếu đất” cũng là một cách “tỏ chí”, con người ở giữa, trên là trời, dưới là đất. Trời đất chẳng qua như cái giường để nghỉ ngơi. Câu bé Uẩn mới dăm bảy tuổi mà đã tự cho mình sánh ngang trời đất. Thậm chí “sơn hà xã tắc” còn “sợ” bàn chân cậu!!! Thơ kiểu này gọi là có “khẩu khí đế vương” thống soái sơn hà!

Khẩu khí văn chương -0
Thượng tướng Trần Quang Khải qua tranh vẽ.

Thơ “tỏ chí” muốn “kinh luân vũ trụ” nên thường lấy vũ trụ làm đối tượng miêu tả. Sách “Nam Ông mộng lục”, “Đại Việt sử ký toàn thư” kể hoàng tử Trần Phủ là con trai thứ của vua Trần Minh Tông. Năm khoảng tám, chín tuổi, một lần đứng hầu nghe giảng về đạo lý của kẻ nam tử, ngoài trời mưa to, gió lớn, Thượng hoàng lấy đó làm đề tài về thời tiết, bảo các trò vịnh. Chỉ loáng sau Phủ đã làm xong bài thơ, trong đó có câu: “An đắc tráng sĩ lực cái thế/ Khả ngự đại ốc đồi phong” (Sao được tráng sĩ sức hơn đời/ Chống đỡ nhà to khi gió mạnh). Hai câu thơ ngắn nhưng dồn vào đấy cái khát vọng làm rường cột chống đỡ quốc gia. Nhận thấy cái “khẩu khí” của đứa con, tuy là thứ nhưng Thượng hoàng đã có ý cho nối ngôi từ sớm (!?)

Giai thoại kể bà Đoàn Thị Điểm khi còn trẻ, một lần đi chơi trượt chân ngã, đám trai tráng cười ồ, có kẻ nhân đó trêu ghẹo. Nữ sinh buông một câu đối: “Giơ tay với thử trời cao thấp/ Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài”. Đám “tu mi nam tử” thấy một nữ nhi mà có “khẩu khí” ghê gớm như vậy, xấu hổ mà chuồn thẳng! Cái hay ở câu đối này chính là sự đề cao tuyệt đỉnh tầm vóc con người, lại là con gái có thể đọ với trời, so với đất!

Khẩu khí văn chương -0
Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm qua tranh vẽ.

Khẩu khí còn bật ra từ tình huống mang tính thử thách, có thể là thử về hiểu biết, về tài năng chữ nghĩa. Một hôm sứ Tàu đi dạo chơi trong thành Thăng Long vào ngồi quán cô Điểm. Thấy chủ quán đẹp nền nã, ăn nói dịu dàng lịch thiệp, có đứa  cợt nhả rồi đọc to một vế đối: “Nam bang nhất thốn bất tri kỹ nhân canh” (Một tấc đất xứ Nam không biết mấy người cày). Cô Điểm liền “trả đũa”: “Bắc quốc chư đại phu, giai do thử đồ xuất” (Các đại phu phương Bắc đều chui ra từ chỗ đó). Ý đối lại chan chát, “khẩu khí” thật cao cường, thâm ý còn là sự mỉa ở nghĩa chữ “đồ” thật đau!

Sử chép thời nhà Minh xâm lược Thượng thư Hoàng Phúc mở trường dạy các nho sinh Đại Việt. Hôm trước mưa bão, nhà đổ, tường xiêu, sáng hôm sau Phúc ra vế đối: “Tai chiêu phong vũ gia gia đối hoại cựu viên tường” (Hôm qua mưa gió nhà nhà tường sập vách xiêu). Một nho sinh xin đọc: “Kim nhật càn khôn xứ xứ phát sinh tân thảo mộc” (Sớm nay đất trời chốn chốn mọc cây cỏ mới). Vế đối hay hơn nhiều thể hiện cái ý sinh sôi phát triển của đất trời “quật” lại cái ý tối tăm mưa gió. Hoàng Phúc giật mình nghĩ xứ này còn nhiều nhân tài, liệu đường mà chạy (!). Quả thật nho sinh ấy chính là Lê Thúc Hiến (con thứ nhà thơ Lê Cảnh Tuân), sau này cùng anh (Lê Thiếu Đính) theo Lê Lợi khởi nghĩa lập nhiều chiến công lớn.

Nhưng thử thách lòng gan dạ, tận trung, tận hiếu, gắn liền với lòng tự trọng quốc thể, phẩm hạnh kẻ sĩ thường là với các sứ giả. Vua Minh ra câu đối cho sứ Hoàng Giáp Ngô Kính Thần: “Nhất hỏa vân yên, bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ” (Mặt trời là lửa, mây là khói đốt cháy vầng trăng). Ý nói kẻ mạnh (Thiên triều) sẽ thắng kẻ yếu (như Đại Việt). Ngô Kính Thần khảng khái đối: “Nguyệt cung tinh đạn hoàng hôn xạ lạc kim ô” (Trăng là cung, sao là đạn bắn rụng mặt trời). Bẽ mặt, vua Minh sai tống giam sứ giả... Nổi tiếng nhất là vế đối tương truyền của Thám Hoa Giang Văn Minh đối lại vua Minh Sùng Trinh: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Trụ đồng đến nay rêu còn xanh) có ý nhục mạ liền bị đối: “Bạch Đằng tự cổ huyết do hồng” (Bạch Đằng từ xưa máu vẫn đỏ). 

Như vậy “khẩu khí” rất cần thiết, nhất là trong đối ngoại!

Một nét của thi pháp cổ điển là nguyên tắc “nguyên tử luận”, cả bài dồn vào một chữ (nhãn tự) thì khẩu khí có khi nằm ở một chữ này. Bố Nguyễn Bỉnh Khiêm trông con và ngâm: “Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung”. Cậu bé Khiêm liền “đối” lại: “Vịn tay tiên, nhè nhẹ rung”. Ông chồng tâm đắc kể với vợ liền bị bà trách: “Mong con làm vua, sao lại mong làm bầy tôi”. Mấu chốt ở chữ “nguyệt”, ngày xưa quan niệm “trăng” tượng trưng cho phận bề tôi. Bà bèn dạy con hát: “Bống bống bang bang, sau này con lớn con tựa ngai vàng”. Ông chồng hoảng sợ (vì triều đình nghe thấy sẽ đắc tội) sửa lại: “Bống bống bang bang, sau này con lớn con vịn ngai vàng”. Chữ “vịn” khác hẳn nghĩa chữ “tựa”. Tức chỉ một chữ thì biểu hiện cho hai “sự nghiệp” khác nhau!

“Khẩu khí” thể hiện nhiều hơn ở cách miêu tả ước lệ, cường điệu, khoa trương. Tương truyền cứ đến ngày giáp Tết, vua Lê Thánh Tông thường “vi hành” xem OK9giaitri đăng nhập dân chúng. Lần ấy vào nhà nghèo, hỏi gia chủ sao không có câu đối Tết. Lại hỏi: Nghề gì. “Vua” liền “cho chữ”: “Thân ỷ nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự/ Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm” (Mình mặc chiếc áo võ đảm việc khó khăn thiên hạ/ Tay cầm thanh gươm dài ba thước tận thu lòng dạ thế gian). Câu đối rất phù hợp với nghề nghiệp (hót phân) của gia chủ vừa đầy “khẩu khí đế vương”!

Lần khác Lê Thánh Tông làm giúp câu đối tết một bà lão bán hàng trầu, nước: “Nếp giầu quen thói hình cơi, con cháu nương nhờ vì ấm/ Việc nước ra tay chuyên bát, bắc nam đâu đấy lại hàng”. Không chỉ “miêu tả” một hàng nước giầu (cau), cơi (trầu), ấm, nước, bát, hàng (quán)... hay hơn cả là “tôn” bà lão Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 “quốc gia đại sự”!

Lại có “khẩu khí” không chỉ nằm ở câu chữ mà còn ở tác giả, tức chủ thể nhà thơ. Trường hợp này sự “bảo hiểm” của “khẩu khí” chính là nhân cách và sự nghiệp lớn lao của người viết. Thế nên giảng thơ, nhất là thơ cổ thường phải có “tiểu sử tác giả” là phù hợp với quy luật tiếp nhận. Bài thơ “Nam quốc sơn hà” một “thiên cổ hùng văn” trước đây thường được cho là của Lý Thường Kiệt bởi có cái lý thật dễ hiểu: phải là người không chỉ tráng chí phi thường mà còn phải hiểu rộng biết nhiều mới có thể là tác giả của áng văn hùng tráng kiệt xuất này.

Giảng bài “Tụng giá hoàn kinh sư” phải gắn liền với những chiến công chói lọi của Thượng tướng Trần Quang Khải trên tuyến đầu đánh đuổi quân Nguyên, sẽ càng thấy rõ hơn đó không chỉ là bài thơ tỏ chí, còn là bài ca khải hoàn của đoàn quân chiến thắng: “Đoạt giáo Chương Dương độ/ Cầm Hồ Hàm Tử quan”. Thế nên phải lột tả cho được ý nghĩa trong ngôn từ hàm súc, cô đọng tối giản, âm hưởng hùng tráng, mạnh mẽ của bản phiên âm. Cũng chỉ là thơ của vị Thượng tướng này thì hai câu cuối mới không phải là “sáo”: “Thái bình nên gắng sức/ Non nước ấy ngàn thu”!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.