Huyết lệ - rơi trong bi kịch!

“Huyết” (máu), “lệ” (nước mắt) đã thành cổ mẫu của văn hóa nhân loại, thường có trong đề tài chiến tranh. Vì nạn gươm đao làm sao tránh được máu chảy.

  • Dặm dài lữ khách tha hương!
  • Triết lý về “một con người”!

Và không một sự an ủi nào có thể ngăn được dòng nước mắt của người chinh phụ trong đêm. Hai hình tượng biểu cảm rất cao cho bi kịch được ghép lại thành “huyết lệ”, không dành riêng cho chiến tranh nữa mà cho bất cứ trường hợp nào, trong hoàn cảnh đau đớn, bi thảm nhất. Nước mắt thì trong suốt, còn “huyết lệ” luôn long lanh sắc màu của máu, càng làm cho biểu tượng đậm chất bi kịch. Vì có gì quý hơn, xót hơn và thiêng liêng hơn máu đâu.

image002.jpg -1
Hàn Mặc Tử và những vần thơ "Huyết lệ".

Có thể dòng chảy “huyết lệ” có ở miền thượng nguồn khu rừng cổ Kinh kịch Trung Quốc. Tiêu biểu là hí khúc “Hồng nhạn sao thư”, kể rằng do chiến tranh Tiết Nhân Quý phải xa vợ Vương Bảo Xuyến đằng đẵng đã 18 năm.

Ngày nọ, Vương Bảo Xuyến đang cắt cỏ ngoài đồng bỗng nghe thấy tiếng kêu của hồng nhạn. Bảo Xuyến chợt nghĩ nhờ chim chuyển cho chồng lá thư. Giữa đồng làm gì có giấy mực, nàng xé miếng vải áo, cắn ngón tay, hòa máu tươi và nước mắt thành mực viết những con chữ khắc khoải nỗi nhớ, đau đớn đợi chờ…

Vợ chồng son xa nhau 18 ngày đã dài, đây là 18 năm, thì hết xuân. Không hề có cảnh chém giết nhưng vẫn thấy chiến tranh đã “giết” biết bao người, cả người ra trận, cả người ở lại. Có khi cái chết của chinh phụ còn đau đớn, dai dẳng hơn nhiều… Một lời kết án chiến tranh sâu sắc, ai oán. Từ đó giọt biểu tượng “huyết lệ” rơi vào nhiều mảnh đất văn chương…

Thi nhân Bạch Cư Dị trồng cây thơ, kết trái giọt “huyết lệ”, không chỉ có trong “Trường hận ca” nữa mà cứ “lơ lửng” mãi mãi trong bầu trời văn hóa nhân loại, trong thế giới nội cảm những ai tri âm, đồng cảm cùng mong muốn hòa bình.

Chuyện rằng quân An Lộc Sơn làm phản, tiến thẳngđến Kinh đôTrường An. Vua tôi nhà Đường phải chạy đến đất Thục ở Tứ Xuyên. Khi đến núi Mã Ngôi, Cấm quân Đại tướng là Trần Huyền Lễ cùng Thái tử Lý Hanh kích động binh sĩ đòi giết Dương Quý Phi mới chịu phò vua đánh giặc. Trong bước đường cùng, Đường Huyền Tông đành ban cho Quý Phi cái chết. Năm đó nàng 38 - cái tuổi mặn mà, nồng nàn nhất.

image001.jpg -0
Không thể cứu Quý Phi, Đường Minh Hoàng chỉ còn biết rơi "huyết lệ"!

Ai cũng biết Huyền Tông - Đường Minh Hoàng yêu Quý Phi đến mức nào, nên đó là bi kịch lớn nhất cho cả hai: “Quân vương yểm diện cứu bất đắc/ Hồi khan huyết lệ tương hòa lưu” (Cứu không nổi, vua đành bưng mặt/ Khi nhìn lại, nước mắt pha máu đã chảy ròng ròng).

Ai “nhìn lại”? Hiểu Huyền Tông nhìn, thì người có “máu pha nước mắt đã chảy ròng ròng” là Quý Phi. Nàng chết trong đau đớn nhất, vì phải chết, phải mãi xa người tình quân vương. Hiểu người tả hoặc bất kỳ ai “nhìn lại”, thì người nhỏ “huyết lệ” là Huyền Tông - đang ở tận đáy của bi kịch: là vua phải chạy giặc, là vua phải nghe quân cấm vệ giết người yêu…

Câu thơ không chủ ngữ để cho ai cũng thấy mình là “chủ ngữ” trong hoàn cảnh ấy, đề đồng cảm, sẻ chia. Hai chữ “huyết lệ” là “nhãn tự” của “Trường hận ca” và cũng có thể là “nhãn tự” cho các thi phẩm cùng đề tài.

“Huyết lệ” rơi vào bi kịch Ức Trai. Là con người của lưu lạc tha hương nên quê hương hiện lên tê tái, xót xa buồn trong thơ Tiên sinh. Ở bài “Thanh minh” (thơ chữ Hán) ông kể về bi kịch rất xa quê: “Thiên lý phần uynh vi bái tảo/ Thập niên thân cựu tận tiêu ma” (Xa nghìn dặm mồ mả không được lạy quét/ Trải mười năm thân cựu đã hao mòn).

Muốn về chỉ còn cách là nhờ “mộng”: “Thập niên phiêu chuyển thán bồng bình/ Quy tứ dao dao nhật tự tinh/ Kỷ thác mộng hồn tầm cố lý/ Không tương huyết lệ tẩy tiên uynh” (Mười năm phiêu dạt như cỏ bồng cánh bèo/ Ý muốn trở về ngày nào cũng nao nao (như cờ bày trong tâm trí)/ Bao lần nhờ mộng tìm về làng cũ/ Chỉ biết đem nước mắt pha máu để rửa mộ tổ tiên”.

Lời thơ ấy trong bài “Quy Côn Sơn chu trung tác” (Về Côn Sơn làm trong thuyền) đẫm nước mắt và máu. Nước mắt của nhớ thương, máu của đau xót. Cả chủ thể nhà thơ và khách thể người đọc, chỉ nguyên thủy một nỗi đau trong nghĩ suy về bổn phận, trách nhiệm và nghĩa vụ với quê hương tiên tổ. Một nhân cách trước hết là phải có mối liên hệ máu thịt với nguồn cội, phải biết để tâm, day dứt, nhiều khi phải biết đau đớn về nguồn cội.

Trong “Tựa Truyện Kiều” (1820) Mộng Liên Đường chủ nhân viết “lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên là "Đoạn trường tân thanh" cũng phải”. Có lẽ lời tựa này dựa vào câu thơ tả nỗi đau của Kiều: “Ruột tằm ngày một héo hon/ Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve/ Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê/ Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao" (câu 2833-2836). “Máu theo nước mắt” là “huyết lệ”. Chỉ từ ấy mới diễn tả sâu sắc nhất tâm trạng bi kịch của Kiều.

Giặc Pháp nhảy vào xâm lược nước ta. Nhiều chí sĩ yêu nước hưởng ứng phong trào Cần vương đuổi giặc, trong đó có nhà yêu nước Nguyễn Duy Cung (sinh 1843 tại làng Vạn Tượng, phủ Tư Nghĩa - Quảng Ngãi), nổi tiếng thông minh, thơ hay, đỗ cử nhân năm 1867 tại trường thi Bình Định. Ông là tác giả của “Huyết lệ tâm thư”(tên gọi khác“Hịch kêu gọi chống Pháp”, “Hịch bình Tây”).

Năm 1885, Pháp chiếm Quy Nhơn, Nguyễn Duy Cung cùng nghĩa quân chống giữ, thế yếu, phải lui về An Nhơn. Bị rơi vào tay giặc nhưng kẻ thù không lay chuyển được ý chí quả cảm người yêu nước. Trong tù ông xé vạt áo, cắn tay lấy máu viết “Huyết lệ tâm thư”, tỏ rõ tấm lòng ái quốc, kêu gọi sĩ phu và nhân dân tiếp tục chiến đấu. Trước đó ông có nhiều thơ viết về cảnh mất nước, như “Tư hương thi” (Bài thơ nhớ quê): “Quốc phá nam nhi đàn huyết lệ/ Ngự thù, hà nhạc đắc trùng quang” (Nước nạn thân trai đầm máu lệ/ Diệt thù mong sớm buổi trùng quang).

Phan Bội Châu với “câu thơ dậy sóng” xứng đáng là nhà yêu nước lớn, ở ngay cách dùng từ. Thơ ông đẫm máu và lệ. Tiêu biểu là những áng văn “Ai Việt Nam” (Xót thương Việt Nam), “Hải ngoại huyết thư” (Bức thư viết bằng máu gửi từ nước ngoài về)… Nhưng hình tượng “huyết lệ” thì ám ảnh trong “Lưu Cầu huyết lệ tân thư”(Tập sách mới viết bằng máu và nước mắt từ xứ Lưu Cầu) viết năm 1904.

Vốn là một vương quốc hải đảo độc lập, năm1879, Lưu Cầu bị đế quốc Nhật Bản xâm chiếm. Vua Lưu Cầu là Thượng Thái bị bắt rồi phế xuống thành hầu tước. Hoàn cảnh nước Lưu Cầu cũng giống với Việt Nam. Với lời văn thống thiết xúc động, Phan Bội Châu viết lại câu chuyện trên để gióng lên tiếng chuông về lòng yêu nước, kêu gọi đấu tranh khôi phục nền độc lập của nước nhà.

Trước đại chiến thứ nhất ít lâu, thực dân Pháp câu kết với bọn phản động Trung Quốc ở Quảng Đông bắt Phan Bội Châu. Trong tù, ông viết “Ngục trung thư” bi thương, xúc động: “Than ôi, phương trời chiếc bóng, mưa gió ngọn đèn, vét giọt nước mắt còn lại trong hai mươi năm này của tôi, hòa lẫn với máu, lượm lặt lịch sử một đời của tôi mà viết ra đây, hai mươi triệu đồng bào rất thân rất mến của tôi ơi! Có biết cho tôi chăng? Đọc quyển sách này, chắc còn thấy máu tươi thắm con quốc đang đầm đìa trên mặt giấy vậy”.

“Giọt nước mắt” đem “hòa lẫn với máu” thì thành “huyết lệ”, đem viết trên giấy thì thành “máu tươi thắm con quốc”. Điển tích “con quốc” nói về bi kịch mất nước đau đớn nhất của Thục đế xưa. Với Phan Bội Châu, còn hơn thế, máu hòa với nước mắt kết thành “huyết lệ” của bi kịch mất nước. Phan là nhà yêu nước vĩ đại cả trong đời, cả trong thơ văn.

Nội hàm và hình thức biểu tượng phù hợp với lối viết kỳ ảo, huyền thoại, ma mị… hẳn phải xuất hiện trong “Trường thơ Loạn” (1937 - 1946) ra đời ở Bình Định. Tất nhiên có trong thơ Hàn Mặc Tử - vị chủ soái: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?” (Những giọt lệ). Một trạng thái hoang mang tột độ, không ý thức được mình đang ở đâu, ai đang chi phối, hành hạ mình. Trong hoàn cảnh ấy, tâm trạng ấy, sắc hoa phượng ánh xạ một màu máu vào giọt nước mắt (giọt châu) nhỏ vào lòng…

Tượng hình một “huyết lệ” nhức nhối đến đau đớn, mà không dùng đến từ “huyết lệ”, phải là một tài năng. Đẹp một cách bi thương là một đặc trưng thơ Hàn Mặc Tử. Chủ thể “giọt châu” là ai? Ai nhỏ nước mắt? Không thấy. Cũng ẩn đi. Để ai đọc cũng thấy nước mắt mình nhỏ vào bi kịch đau khổ của thi nhân. “Huyết lệ” trở thành viên ngọc thơ rơi vào lòng người, cõi người. Và có thể, rơi vào chính cõi mình!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.