(Đọc thơ Lê Thành Nghị)

Hoa thường hay héo cỏ thường tươi

"Hoa thường hay héo cỏ thường tươi". Tôi liên tưởng tới cái thoáng chốc và cái mãi mãi trong câu thơ này của Nguyễn Trãi mỗi khi đọc thơ Lê Thành Nghị. Từng vạt mướt xanh, từng nhành, từng cọng, cỏ tắm nắng trời, cỏ rung rinh trong gió, cỏ ngậm sương, cỏ chẳng biết đau dẫu những bàn chân dẫm đè lên cỏ. Cỏ trải qua bốn mùa hiên ngang giông bão. Cỏ tạo nên điệp khúc tâm trạng bốn mùa vạn vật đổi thay, tình người chan chứa.

  • Thơ suy cảm và thơ duy lý
  • Truyện ngắn Đỗ Tiến Thụy: Một nét duyên ngầm

Điệp khúc cỏ để lại dư ba day dứt khi chạm những câu thơ hồn vía:

Có những câu thơ dù thiêu cũng không thể cháy
Như thể lửa càng to, thảm cỏ mọc càng dầy

(Thi sĩ)

Không gian "cỏ" trong thơ Lê Thành Nghị đầy những cung bậc tâm trạng của cái thường biến thường hằng. Ở bất kỳ vị trí quan sát nào, tâm trạng người thơ đều có góc nhìn phóng chiếu, quy nạp về với cỏ, cảm nhận tầm vóc của loài thân thảo thấp bé "nhòai" sát mặt đất, mà sức sống luôn báo hiệu những đổi thay bất tử trong thời gian, kích thích suy cảm của con người.

image001-1.jpg -0
Bìa tập thơ "Mưa trong thành phố" của nhà thơ Lê Thành Nghị.

Có một lời thề âm ỉ dọc cuộc đời, từ "Thuở nằm chơi trên cỏ" cho tới "Giờ sắp nằm dưới cỏ" mà không sao/ không thể thực hiện được việc "đánh cắp của thượng đế một ngôi sao" để tặng người con gái. Sự không thành ấy, tất nhiên là thế, thể hiện trong bài thơ vỏn vẹn hai mươi bảy từ, phân phối không đều ở bốn câu (câu thứ hai mười hai từ), mà sao cấu thành nên một tứ thơ, biểu hiện sự ăn năn, dằn vặt mãi không thôi. Bởi, như chính câu thơ đầu tiên trong bài "Lời thề", nhà thơ xác định, cỏ đã ám ảnh ông từ thuở hoa niên mơ mộng. Hơn thế, cỏ là tác nhân để ông về với mẹ:

Lá rụng ngày đi như cuốn gió
Dế kêu tê dại cỏ trong vườn
Ai về tát cạn ao phiền muộn
Để mẹ thôi buồn, thôi ngóng trông

Cái "ao phiền muộn" ấy kết nối hai nỗi nhớ, của người mẹ nhớ con và của người con không nguôi ngoai nhớ mẹ, thành một sợi dây nghĩa tình mẫu tử. Chưa dừng lại ở đấy, sợi dây tiếp tục đan thành tấm lưới quan hệ đa chiều giữa cha và con, giữa mẹ và con, giữa cha và mẹ, giữa người và cảnh, giữa cảnh và cảnh, giữa động và tĩnh, giữa thực tại và quá khứ…

"Cỏ" trở thành ký ức, theo nhà thơ đi khắp mọi miền quê hương của Tổ quốc và vượt qua biên giới. "Cỏ ký ức" không chỉ để tác giả hòai niệm, mà tiếp sức cho nhà thơ chiêm nghiệm trên mỗi chặng đường, ở mỗi nơi dừng chân. Đường lên Chùa Đồng Yên Tử, nơi "Tiếng chuông tê buốt suốt mùa thu". Và, khi lên Xứ Lạng xót xa trước một chiêm nghiệm khác

Em từ thuở với đá ngầm ở lại
Giấu nỗi buồn trong suốt chảy trăm năm

(Trong suốt sông Kỳ Cùng)

Có khi cỏ là một thách thức:
Bờ muốn anh hóa cỏ tím chờ sông
Mà quên không buộc gió!

(Dự định)

Như một biến thiên của quy luật, những quy luật khắt khe, ràng buộc, bởi chỉ đi tới giác ngộ con người mới tìm được cách tồn tại trong đó. Ngẫm về mẹ là một giác ngộ:

Sớm muộn rồi ai cũng sẽ trở về với mẹ
Cho dù mẹ ta ra đi khi còn rất trẻ
Người mang theo những mùa tóc xanh vào biếc cỏ

Thôi kệ những thành bại, sang hèn, buồn vui, sướng khổ
Ta sẽ bay như mẹ giữa mây cao!

(Mẹ trên cao)

Đó là sự giác ngộ. Đã là giác ngộ thì uỷ mị, đớn hèn, bi luỵ không có chỗ chen chân. Bởi, như những chú dế kia:

Vui thì hát mà buồn cũng hát
Khi bờ sông cỏ tím đã vào thu

(Bờ sông tiếng dế)

Trên cây bàng mùa thu:
Những chiếc lá mùa thu sẽ viết
Sẽ đọc thầm trong cỏ suốt mùa thu

(Ký ức mùa thu Hà Nội)

Dọc dòng suối ban mai:
Cỏ bên bờ mơ mộng mọc lên
Hoa thơm ngát hình như vì nước chả
y

(Nhớ suối tận nguồn)

Và ngay cả bản thân:
Ta về làm đất chờ hạt xuống
Hóa những cánh diều bay trăn

(Mùa thu đến rồi đi)…

Như nhiều câu thơ khác, những câu thơ này người thơ như đắm mình vào bản hòa tấu của cuộc đời, lắng nghe hợp âm chủ của thiên nhiên dẫn dắt con người lên nốt cao nhất và luyến xuống cung bậc trầm trong nhịp điệu không gian và thời gian, vừa xác định vừa vô định.

Ai xui mặt trời xuống vội
Trai gái đưa nhau về miền cỏ dại

(Nắng của ngày đã mất)

Cái thực, cái hư của lãng mạn, của xa xót náu ngay ở tên bài thơ - cái gì đã mất: "nắng của ngày" hay riêng "ngày" mà thôi (?); và, cái "dại" nơi cỏ hay ở hành động của người (?); tất cả đều có thể. Nhà thơ cảnh báo cô gái (em) đừng dẫm lên cỏ và:

Đừng ghen thầm với cỏ
Em xanh được mấy mùa?

(Trong cỏ)

Cái hữu hạn đời người trong cái vô hạn của tạo hóa khiến người ta cảm thấy chật chội, hờn dỗi vì tưởng bị lãng quên. Nhưng, cỏ nhắc người:

Vô hạn những triền sông, ngút ngát những chân đê
Một nền xanh dưới chân mây… là cỏ
Em nhớ không dưới nền xanh lặng đó
Nhân loại ngủ im lìm

(Trong cỏ)

Qua câu chữ, vốn từ, nhà thơ góp phần giúp ta nhận thức cái đẹp đầy đủ hơn, gần bản chất hơn, từ đó nâng dần giá trị thẩm mỹ của thơ, nhận chân "đúng thơ", "đầy chất thơ". Bởi:

Bờ cỏ mực mùa thu gom hết tím
Cát không tin, cát vẫn lặng yên chờ

(Cát vẫn lặng yên chờ)

"Cỏ" trong thơ Lê Thành Nghị như một hình tượng để nhận biết cái hay, cái đẹp, cái nhịp điệu luân chuyển không ngừng trong bản chất thực của quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Từ "nhịp điệu cỏ" biến tấu sang nhịp điệu hoa, lá, gió, trăng…, để tạo nên những phức điệu của âm thanh gọi màu sắc:

Cây ngày mai sẽ xanh kín lá
Thảm cỏ nhung lộng lẫy nắng bên đường

(Matxcơva, mùa tuyết tan)

Trong "điệp khúc cỏ", sự "xuống" của mưa, của lá, của mùa, như những "nốt chấm dôi" (trong nhạc), làm tăng độ ngân nga của nhịp

Trời đang xanh, nắng đang trưa
Bỗng dưng xuống một cơn mưa rửa đền

(Về Phong Châu)

Từ "xuống" thật đắc địa, riêng nó tạo một nhịp, nhấn mạnh tiết tấu câu thơ thêm chắc và có độ rung trong cấu trúc 2-1-3-2; khác với nhóm ba từ "mùa lá xuống" tạo nhịp và tiết tấu mềm hơn, như ở những câu thơ dưới đây:

Bên kia mùa lá xuống gió theo về

Tàu đến sân ga, ta về mùa lá xuống

Ta là hạt mưa xuống

 Nhà thơ tránh không dùng hình ảnh ra đi mất hút của từ "rơi" hoặc "rụng", mà dùng từ "xuống" nhằm kích thích tâm trạng hướng tới sự hòa nhập (hay sự dịch biến) của sự vật này vào sự vật khác, tạo nên hình ảnh mới. Đó chính là ý tại ngôn ngoại trong thơ. Ngay cả trong bài thơ văn xuôi "Mưa trong thành phố", thủ pháp này cũng được Lê Thành Nghị sử dụng triệt để:

Ta chỉ là hạt mưa xuống đất. Như Ngàn Hống đêm đêm tự đốt mình làm đuốc. Sưởi ấm ta bằng những trận cháy rừng. Hãy thử góp nghìn cơn mưa lớn. Dập trong ký ức ta những trận cháy rừng.

Bài thơ thật ấn tượng. Song, phải chăng là hợp lý khi xếp bài thơ vào thể thơ văn xuôi? Những dấu chấm (.) đã nói rằng, "duỗi" các câu thơ ra, ý và tứ của bài thơ vẫn không có gì thay đổi, chỉ có độ dài là tăng lên. Câu chữ trong thơ anh thật đẹp:

Sau cơn mưa hoa sữa xuống bên đường
Hoa thả xuống một ngày thăm thẳm nắng
Người đi đâu để thềm hun hút vắng
Nắng đi đâu còn lại một hồ sương

(Chiều Hồ Tây)

Một vẻ đẹp dịu dàng, thuần khiết của cảnh và người, nhất là câu kết.

Đọc thơ Lê Thành Nghị, ta có thể trích dẫn nhiều câu thơ hay, câu thơ đẹp. Ông là nhà thơ tài hoa và biết giấu cái tài hoa ấy trong những câu thơ trầm tĩnh, nhưng xao động ở nhịp khoan thai, ở độ rung của sự nhạy cảm. Đọc thơ Lê Thành Nghị, tôi nhận ra "điệp khúc cỏ" như là một hình tượng, như đang kiếm tìm "cái vô hạn" trong đó, vừa khiêm nhường vừa kiên cường giữa mông mênh trời đất.

Cao Ngọc Thắng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.