Hình tượng trang trí tứ linh trên đồ thờ bằng đồng ở làng Đại Bái

Hình tượng trang trí là sự khái quát hiện thực hoa lá, động vật, cây cối... bằng ngôn ngữ của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, sự khái quát, đơn giản về đường nét, hình khối, màu sắc. Điển hình là hình tượng trang trí Rồng, Phượng trên đỉnh đồng, mâm bồng... tạo nên hiệu quả Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 phong phú, đa dạng tăng sự linh thiêng cho các sản phẩm đồ thờ bằng đồng của làng Đại Bái.
  • Một góc tâm linh Việt!
  • Ẩm thực kết nối tâm linh

Hình tượng Rồng

Đây là hình tượng được tiếp thu, kế thừa từ những giai đoạn trước, hình Rồng thường được xem là biểu tượng của sự uy quyền và đồng thời hình Rồng được sử dụng một cách hài hòa trong không gian của ngôi đình, đền, chùa. Hình Rồng thường được kết hợp với mây cũng như nhiều hình tượng trang trí khác có sự thay đổi và phát triển theo từng thời kỳ, những nét chạm điêu luyện dưới nhiều hình thức Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 như Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trang trí phù điêu, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trang trí chạm khảm tam khí ngũ sắc, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 có sự kết hợp cả phù điêu và chạm khảm tam khí.

Hình tượng Rồng.
Hình tượng Rồng. 

Đối với trang trí hình Rồng trên đồ thờ bằng đồng thường ở vị trí trung tâm và đây cũng là cách nhận biết mặt trước hay mặt sau của sản phẩm. Về cơ bản hình Rồng trang trí trên đồ thờ đều mang đậm phong cách Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 thời Nguyễn ở thế kỷ 19, bố cục hình dáng toát lên sự khỏe khoắn thân uốn lượn nhiều khúc. Các hình Rồng trang trí trên đồ thờ bằng đồng đều mang kiểu dáng uốn lượn, thân mảnh, nhìn chung theo cùng phong cách nhưng về chi tiết mỗi hình tượng tùy theo kích thước và bề mặt của đồ thờ tạo ra sự phong phú, không trùng lặp, theo từng kiểu dáng của đồ thờ.

Điểm đáng chú ý về hình tượng Rồng trang trí trên đồ thờ được thể hiện có sự thay đổi về cách gò nổi hay chạm nét, ở phần nắp, phần thân với các kỹ thuật đúc thủng, chạm nổi hay chạm nét cấu trúc hình Rồng được kết hợp ăn nhập và hài hòa cùng hoa văn nét chìm, nổi, khoảng thủng tạo nên sự tương phản của khối - hình, sự tách biệt giữa các phần và trang trí trên sản phẩm.

Hình Rồng chầu mặt trời là một hình thức trang trí phổ biến ở đồ thờ bằng đồng làng Đại Bái, hình tượng này thường chạm ở phần trung tâm trên bề mặt đồ thờ. Từ đó có thể dễ dàng dựa vào phong cách hình tượng Rồng làm tiêu chí để đoán định niên đại của đồ thờ. Hình Rồng thế kỷ 17 được trang trí với đao mác nhọn đầu, đuôi thẳng, vảy xoắn... Hình Rồng thời Trần lưng yên ngựa, hình rồng thời Lý dáng uốn khúc hình sin đều đặn và nhỏ dần về phần đuôi, không có sừng, mũi, tai thân uốn nhiều khúc để trơn, hình rồng thời Nguyễn thân gầy, đao đuôi nheo, đuôi xoắn lại...

Hình tượng Chim Phượng

Thế kỷ 19, trong các hình tượng tứ linh hình Phượng giai đoạn này thường ít hơn so với hình Rồng và Lân. Hình tượng chim Phượng thường được trang trí chủ yếu ở mặt sau của đỉnh đồng và mặt đĩa để hoa quả, yếu tố dân gian được phát triển mạnh, phong phú về kiểu dáng nhìn nghiêng, chính diện, Phượng đang bay, hay chân co chân đứng trên mây… 

Đến thời Nguyễn, hình tượng chim Phượng thường được thể hiện với những nét tương tự nhau, phổ biến nhất là Phượng mang sách. Phượng được thể hiện với một dải lụa dài có buộc một chiếc hộp hình khối chữ nhật nhỏ, hay bảng gỗ có kẻ ô trám kèm theo bút lông, có khi là với cuốn sách cuộn tròn, một chi tiết tuy nhỏ nhưng rất đẹp đó là dải lụa buộc sách được làm nút mềm, buông phần hai đuôi bay sang hai bên làm cho hình trở nên mềm mại và sinh động hơn rất nhiều.

Hình tượng Phượng.
Hình tượng Phượng.

Khi quan sát các sản phẩm đồ đồng của làng Đại Bái, tiêu biểu trên đỉnh đồng: trang trí hình chim Phượng xuất hiện ở mặt đằng sau phần thân đỉnh đồng, ngoại trừ mặt trước của đỉnh thường được chạm Rồng, Phượng được bố cục đăng đối nhau trầu vào giữa theo cách nhìn nghiêng, tạo nên một thể hòa hợp với các phần - hình tượng. 

Nếu như ở thời Mạc hình chim Phượng được thống nhất trang trí kết hợp với mây xoắn, hoa lá thì đến thế kỷ 17 những yếu tố dân gian được phát triển mạnh mẽ hơn, hình tượng chim Phượng có cánh mềm mại, uyển chuyển hơn. 

Sang đến thế kỷ 19, hình tượng vẫn nhiều nét tương tự như vậy, hình Phượng ở trên đồ thờ được chạm khắc theo hình dáng nhìn nghiêng, thời này hình Phượng còn được gắn bó mật thiết trên nhiều vị trí khác. Về tạo dáng, dù chạm ở trên đồ thờ mang phong cách thời Nguyễn, hình Phượng vẫn luôn giữ những vẻ đẹp điển hình như mỏ diều hâu, mắt giọt lệ, đuôi, tóc trĩ, cổ rắn có vẩy, sau đầu và cổ có nhiều lông đuôi nheo.

Hình tượng Lân

Hình Lân là hình mà ở hầu hết di tích nào cũng có và ở rất nhiều vị trí từ trang trí kiến trúc cho đến những vị trí như  ở nắp đỉnh đồng… hình Lân ở vị trí nào đi nữa về ý nghĩa đã được cường điệu hóa, vượt ra ngoài ý nghĩa một con vật bình thường đó là về vũ trụ để chở tâm tưởng của thời đại bay theo ước vọng.

Hình tượng Lân.
Hình tượng Lân.

Thời Lý hình tượng Lân được thể hiện dưới hai dạng khác nhau: thứ nhất lân ngồi trên đài sen (Lân chùa Phật Tích - thời Lý), thứ 2 Lân đội đài sen và làm chỗ ngồi của tượng Phật (chùa Hương Lãng, chùa Thầy). Thời Trần dạng Lân đã nảy sừng, thân béo hơn, sống đuôi dày hơn, Lân thời Trần mang tư cách đón khách hành hương về miền thanh hư. 

Thời Lê - Sơ, chưa tìm được lân trong đồ thờ mà chỉ thấy chạm ở lăng mộ Lam Kinh. Sang đến thời Mạc, Lân đã xuất hiện trên đồ gốm, xong với tư cách đồ thờ Lân được thể hiện nhiều hơn ở thế kỷ 17 trên những cây đèn với trụ đèn hình vuông, Lân đội trụ đèn ở giữa lưng. Đây là những cây đèn đẹp, là sản phẩm của gốm Bát Tràng và hình thức này được kéo dài đến nửa đầu thế kỷ 18. 

Vào thế kỷ 18 Lân được hội nhập vào hệ tứ linh, nhìn chung Lân gần gũi với con Long mã. Thế kỷ 19 Lân hiếm thấy xuất hiện dưới cây đèn, mà thường được thể hiện trên nắp đỉnh đồng dưới dạng một chân đặt lên quả cầu.

Về hình tượng con Lân trên đỉnh thờ tuy được thể hiện dưới dạng tượng tròn nhưng vẫn mang tính chất trang trí, tạo hình được cách điệu, đường nét đều từ các xoáy cho đến cách thể hiện râu, tóc, vẩy, vây tuy đơn giản về hình nhưng bộc lộ được những nét dữ tợn và uy quyền vốn có của nó. Hình dáng Lân nhỏ gọn so với tỉ lệ nắp đỉnh để tạo thành điểm nhấn hình tượng vừa tạo sự phong phú cho Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trang trí, vừa mang đầy đủ ý nghĩa sâu xa về tâm linh.

Hình tượng Hạc - Rùa

Hình tượng Hạc và Rùa thường thấy xuất hiện trên đồ thờ, hạc mỏ dài, cổ cao và cong, thân thon đứng thẳng trên lưng rùa. Hình Rùa ở phía dưới thường có thân hình mập, đầu Rùa ngẩng cao, cổ rụt, mặt tròn, mai được chạm hình lục lăng, ngón chân chụm. Thường được chạm với kích thước chung khi đặt để trên ban thờ, đây là con vật của tầng trên chứa đựng trong mình nhiều sinh lực có ý nghĩa nhằm đề cao thần linh. Và khi kết hợp hạc đứng lên lưng Rùa tạo thành một hợp thể Hạc - Rùa muốn nói đến sự đỗi đãi âm dương tượng trưng cho sự thanh tao và cao quý. Cho tới cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, hình tượng Hạc, Rùa được phổ biến dùng trong trang trí đồ thờ.

Hình tượng Hạc - Rùa.
Hình tượng Hạc - Rùa.

Hình tượng Rùa là một loài có thực và được nâng lên làm con vật vũ trụ, vì thế mà đưa vào trong tâm thức của người Việt từ xa xưa. Hình Rùa vốn vẫn mang tư cách như một vị thần, Rùa là sự biểu tượng cho sự chân chính, có thể tiêu trừ được mọi điều xấu. Với đồ thờ, ý nghĩa linh thiêng và được kết tụ lại để phù hợp với ước vọng của người Việt. Từ những quan niệm đó mà tạo nên hình tượng với sự đối đãi âm dương cha trời, mẹ đất.

Mang nhiều ý nghĩa sâu xa như vậy mà hình Rùa thường được biểu hiện rùa cuốn thủy, rùa hạc, cầu sự no đủ, thanh cao... Cho đến thế kỷ 19 trở đi, hình tượng Rùa thể hiện dưới dạng tứ linh, xuất hiện nhiều trên đồ thờ hay trên các hiện vật khác...

Ngày nay, trên các sản phẩm đồ đồng ở làng Đại Bái hình tượng Rồng, chim Phượng…vẫn luôn là những hình tượng được trang trí chủ yếu và xuyên suốt. Được thể  hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, từ hình thức trang trí chạm khảm tam khí ngũ sắc đến hình thức trang trí phù điêu, được cách điệu hóa tăng sự lung linh cho sản phẩm đồ thờ bằng đồng, mang  nhiều quan niệm và ý nghĩa về tâm linh của người Việt.

Thu Hương

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.