Gió Lào - một ấn tượng trong văn chương

Các nhà văn dù sinh ra và lớn lên trên quê hương miền Trung, hay chỉ đi qua mảnh đất này thôi, cũng đều "giật mình" với những trận gió Lào khô nóng mùa hè ở đây. Bằng sự rung động của cảm xúc cùng tài năng diễn đạt ngôn từ, họ đã làm cho gió Lào trở nên sống động, dữ dội, và đôi khi cũng thật… dễ thương.

  • Án văn chương ở nước ta
  • Văn chương trẻ: Sôi động và tươi mới

"Ôi gió Lào ơi! Ngươi đừng thổi nữa/ Những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ Những đồi sim không đủ quả nuôi người". Đây là những câu thơ trong bài "Kết nạp Đảng trên quê mẹ" của nhà thơ Chế Lan Viên được trích dẫn nhiều nhất khi nói về gió Lào. Bài thơ lấy cảm hứng từ chính việc tác giả được đứng vào hàng ngũ của Đảng năm 1949 tại quê nhà Quảng Trị. Thời kỳ đó, quê hương đang gian khó: "Cuộc sống gian lao ít tiếng nói cười/ Chỉ tiếng gió mù trời chen tiếng súng / Của đồn giặc mấy năm trời chiếm đóng". Và hình tượng gió Lào trong thơ ông vừa là cái thực, nhưng cũng hoán dụ cho một nỗi lầm than. Chính bởi thế nên nhà thơ đã nhân cách hóa ngọn gió và gọi là "ngươi" cùng tiếng cầu xin "đừng thổi nữa".

Những ruộng lúa, đồng cỏ, đồi sim thường được mường tượng đến khung cảnh tốt tươi, bạt ngàn, trù phú, song ở đây chúng lại được diễn tả ngược lại. Điều này là một dụng ý Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Gió Lào sau khi vượt qua núi tạo hiệu ứng phơn, đặc trưng khô nóng và nó làm cho hệ sinh vật ở đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Sự ảnh hưởng này chủ yếu xảy ra ở các tỉnh miền Trung nước ta. Thế nên vào thời kỳ chiến tranh, các nhà văn khi được thực tế vào khu Bốn (cách gọi đơn vị hành chính - quân sự ở vùng Bắc Trung Bộ từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế) đều ớn sợ loại gió này.

Đến như nhà văn Nguyễn Tuân, cây bút ký hàng đầu, người luôn lang bạt kỳ hồ mà còn khiếp sợ trong tùy bút "Gió Lào" viết năm 1947 khi vào Nghệ An. Nhà văn cũng ví von ngọn gió giống như một thực thể sống: "Tháng tư âm lịch, gió Lào đêm ngày nối tiếp kêu gào như sinh vật bị cắt cổ họng. Có lúc gió rống lên như đàn chó già sủa bóng. Bị lục địa xua rượt từ Tràng Sơn thốc ra bể Đông, gió chạy một chiều rất nhanh rất bạo qua một cái tỉnh vắng rộng".

danh-gio lao mot an tuong trong van chuong.jpg -0
Gió Lào để lại dấu ấn trong nhiều tác phẩm văn chương.

Nguyễn Tuân là nhà văn quan sát kỹ và miêu tả chi tiết, dĩ nhiên, ông không thể bỏ qua trường hợp gió Lào: "Gió cứ một điệu ù ù thổi từ đất ra biển, không một phút nào ngoảnh cổ lại. Cái điều ác hại nhất là gió lại nóng hơn cả nắng lóe, bực bội hơn cả mùa hè. Đất ùn chướng lũy, uất lên với nhiệt độ gió Lào, mất dần từng chút sình ướt mịn nhuyễn của bản thể, cho đến mực không toát lấy được một giọt mồ hôi. Trên gạch rụng, rêu chết dần". Càng đọc, càng thấy Nguyễn Tuân đẩy người đọc vào thế dồn nén cùng con chữ: "Trước mắt quanh mình, trời đất quấy tro nóng. Áp lực không trung đè mình xuống, cấu nghẹt cuống hô hấp. Khí trời ong ong, khí người ráo kiệt".

Và đến câu sau đây mới thấy sự hóm hỉnh, chịu chơi của bậc thầy bút ký: "Chao ôi còn thứ giống đực giống cái nào dám nghĩ đến nhau lúc gió Lào đang về này! Tiếng thương nhau mà kêu lên bây giờ chỉ là một giọng khàn cố đẩy ra khỏi hầu rất khó mà qua được cổ bóng". Nóng đến mức Ok986 vip Thiên đường trò chơi đàn bà không thèm hơi nhau thì thật đúng là một ví von tinh quái, trần tục mà cũng rất thực tế.

Khi đang đứng trong gió Lào ở xứ Nghệ, nhà văn Nguyễn Tuân cũng có một nhắc nhớ về miền quê Quảng Trị: "Nói thêm về cái buồn rợn của gió đang cấp bức lên đường, đang chui bừa qua những dãy phố gạch không một cái nào còn cửa mà ngăn mà đóng, một anh bạn diễn viên kể lại rằng thường niên trong vùng Quảng Trị, xưa kia có những người mẹ hễ thấy gió Lào nổi về là ôm chầm lấy con mình mà khóc, khóc như con chết, khóc như gào thi với gió độc. Gió từ nẻo lưng đèo ùa về đưa tiếng khóc đàn bà qua những cồn cát trắng, trắng đến mực ngao ngán, qua những rú xanh truông cằn trên đó còn phất phơ cái ú ớ mê tín ma Hời".

Một cây bút ký tài hoa xuất sắc khác là Hoàng Phủ Ngọc Tường chắc hẳn không thể không miêu tả về ngọn gió chướng quê nhà. Trong bút ký "Hành lang của người và gió", ông viết: "Chiếc xe lam ì ạch vượt đèo Ba Dốc. Gió Nam tấp vào mặt tôi từng chiếc lưỡi nóng bỏng, như thể đâu đó giữa không trung, những con quái vật thời tiền sử đang phun lửa xuống mảnh đất khô khốc vùng hỏa tuyến. Gió tràn qua những ngôi làng đất bazan vùng Gio Linh, dấy lên những đám bụi đỏ mịt mùng. Dưới sức thiêu đốt của gió, tre già nổ ran như tiếng súng giao tranh trải khắp một vùng mênh mông dưới chân Dốc Miếu".

Trong nhàn đàm "Người kéo cờ", nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường kể lại chuyện khi ông phải kéo cờ Mặt trận ở phía nam cầu Bến Hải. Lần ấy, chính ông đã phải "chiến đấu" với gió Lào và suýt chút nữa "bị thua", không hoàn thành nhiệm vụ: "Nhiệm vụ treo cờ của tôi đến đây xem như hoàn tất nếu không có một sự kiện chết người chợt xảy ra, là... gió Nam! Nói tóm gọn, không có lá cờ nào cỡ gần 100 m2 chịu nổi sức hoành hành của gió Lào vào thời điểm này. Chỉ trong một buổi sáng, gió đã xé tan của tôi hai lá cờ mà với tôi lúc này quý hơn sinh mạng.

Tôi nhảy nhờ xe ra cầu Bến Hải, thấy lá cờ Giải phóng đang phần phật như sóng biển trên cột cờ Nam vĩ tuyến bèn hối hả hạ lá cờ xuống để tránh gió, và nhờ đồn biên phòng ở phía Bắc ra hiệu, tôi sẽ kéo cờ lên mỗi lúc có đoàn xe quan trọng sắp tiến qua cầu. Trừ một vài V.I.P của phía ta, như Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình, còn tất cả nhân vật khác tôi đều xin "thông cảm", để giành cờ cho ngoại giao đoàn.

Cứ kéo lên kéo xuống lia lịa như vậy, mệt thật, nhưng cũng không có cách nào khác. Còi hiệu rít lên, và điện thoại báo đoàn xe ngoại giao sắp đến. Tôi vội vã kéo cờ lên. Bất ngờ gió Nam bỗng giật như cơn bão. Dù tôi ráng hết sức, lá cờ vẫn chỉ nhích lên từng chút một, có lúc nó nặng như một tảng đá, có lúc tôi thấy chân mình bị nhấc khỏi mặt đất".

Với nhà văn Xuân Đức thì ngọn gió đặc trưng của quê nhà Quảng Trị đã gắn vào đời ông một biệt danh, người ta gọi ông là "nhà văn miền Cửa gió". Điều này là bởi tiểu thuyết đầu tay của ông có tên "Cửa gió". Cuốn sách này đã đoạt ngay giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1982 khi mới in xong tập 1. Còn tập 2 của "Cửa gió" phải đến năm 1984 mới in. Đây có lẽ là trường hợp đặc biệt, độc đáo trong văn chương.

"Cửa gió" kể về thời kỳ chiến tranh khốc liệt ở miền giới tuyến Vĩnh Linh, nơi nhà văn OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á và tham gia chiến đấu. Chính vì thế mà tiểu thuyết sống động, chân thực. Ở đây, chúng tôi không trích dẫn tác phẩm này vì dù sao tiểu thuyết vẫn là một thể loại thuộc văn chương hư cấu. Thế nên để nói lên sự chân thực, không gì bằng trích một đoạn trong cuốn hồi ký chưa xuất bản có tên "Nửa đêm thức dậy", đây là cuốn sách mà nhà văn Xuân Đức đang viết dang dở thì bất ngờ đột quỵ và từ biệt bạn đọc. Đoạn nhà văn miêu tả về cảnh cháy nhà bởi ngọn gió Lào thật xúc động:

"Vợ tôi, càng làm ruộng càng đói, có cất lên được một ngôi nhà gỗ, thì đến một đêm gió Lào năm 1979 đã cháy rụi thành than. […] Khi căn nhà tôi bốc cháy, gió Lào thổi cấp sáu, cấp bảy, vì có lửa lớn nên gió xoáy vào có lẽ phải đến cấp tám. Từng mảng tranh lợp bứt ra mang theo từng khối lửa bay vèo vèo. Mẹ vợ tôi già cả. May mắn lắm bế được đứa cháu trong nôi chạy ra ngoài. Con trai đầu và con gái thứ cũng chạy thoát được với độc nhất chiếc quần lót trên người. Hai vợ chồng tôi cắn răng giật từng mái tranh nơi cầu nối giữa nhà bếp với nhà trên với hy vọng cắt đôi ngọn lửa. Thật là vô nghĩa. Làng xóm đổ dồn đến nhưng chỉ để đứng nhìn, rồi sau đó họ bủa ra chạy cấp cứu những nhà hàng xóm. Không còn một chút gì trong nhà không biến thành than. Cả cái chuồng bồ câu ở ngoài góc sân cũng bị trùm lửa. Bồ câu hoảng loạn bay ra, nhưng chỉ duy nhất một con thoát nạn còn lại đều bị nướng chín. Nhưng hai vợ chồng tôi không khóc. Tôi ôm chặt lấy vai vợ, cố gằn từng tiếng: Đừng khóc... Ta sẽ làm lại... Không chết đâu...".

Trong những năm 1969 - 1970, nhà thơ Xuân Quỳnh đi vào thực tế tại tuyến lửa Quảng Bình - Vĩnh Linh và nữ sĩ đã phải trải qua những đợt gió Nam khủng khiếp. Trong "Ghi chép về Vĩnh Linh", đoạn nói về đợt máy bay B52 thả trúng hầm địa đạo, bà đã miêu tả cảnh ngột ngạt: "Đứa con anh hai tuổi ngồi trong hầm lâu quá, nó ngạt thở cứ kêu "ba ơi ba". Anh lấy nước trong hầm dấp cho nó, nó vẫn không thở được. Hầm rộng và sáng nhưng khi nó đánh, gió Nam tạt vào khói mù mịt chả ai trông thấy ai".

Ngoài khắc họa chân thực chiến tranh, Xuân Quỳnh cũng sáng tác nhiều thơ về vùng đất khốc liệt mà tiêu biểu là bài "Gió Lào cát trắng" viết năm 1969, sau này lấy làm tên chung cho tập thơ xuất bản năm 1974. Bài thơ là nỗi lòng của nữ sĩ coi vùng đất giới tuyến như quê hương của mình: "Ngọn gió Lào cát trắng của đời tôi/ Tôi của cát của gió Lào khắc nghiệt/ Trong gió nóng những trưa hè ngột ngạt/ Mẹ ru tôi hạt cát sạn hàm răng/ Vừa lớn khôn tôi đã biết đào hầm/ Dưới bom đạn gió Lào vẫn thổi".

Hoàng Công Danh

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.