Giếng phố cổ thành

Hoàng thành Thăng Long và khu phố cổ Hà Nội được hình thành tập trung ở thời Lý-Trần. Hàng phố mọc lên từ các làng xưa nằm ở phía đông Hoàng thành ra đến sát sông Hồng rộng hàng trăm hecta. Hệ thống đường thủy sông ngòi thuở xưa được coi là giao thương chính trong khu phố buôn bán. Những con giếng từ đó cũng được khơi lên tạo mạch nguồn OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á. Nước giếng đá ong trong mát ấp ủ hương thơm trời đất và là hồn phố ngàn năm.

Ký ức giếng Ngọc 

Xưa, nếu đi tàu điện từ chợ cửa Nam về nhà tôi ở làng Kim Liên (sau hồ Ba mẫu) chỉ mất chừng 1 xu. Bởi phố Hàng Cơm (bên phố Văn Miếu) ngày ấy còn thì gần lắm. Mẹ tôi kể thời các cụ cùng mọi người thường gánh cơm lên bán cho các sĩ tử về Văn Miếu chờ dự thi. Mà cơm làng tôi nổi tiếng thơm ngon vì dùng nước giếng Ngọc bên đình đền Kim Liên.

Giếng Ngọc rộng tới 30 mét được coi là mắt rồng của cửa Nam tứ trấn thành Thăng Long. Đường làng Kim Liên giờ lên phố lấy tên đức thánh Kim Hoa (thờ tại đình Kim Liên). Giếng Ngọc ở cuối phố nhưng luôn gắn với câu ca dao ra đời cách đây hơn 300 năm: "Thứ nhất gần mẹ gần cha/ Thứ nhì gần giếng, thứ ba gần đình".

screen shot 2021-08-22 at 15.53.41.jpg -0

 Giếng trong số nhà 15 ngõ Phủ Doãn vẫn còn nguyên vẹn như ban đầu. 

Thời Pháp có máy nước bơm từ giếng khoan nhưng dân phố Kim Hoa vẫn gánh nước giếng Ngọc về dùng. Nước vừa trong vừa ngọt bởi giếng có mạch nguồn nước mưa từ hồ Bảy mẫu và con đầm lớn tụ về. Chính vì thế ngã tư đầu phố Kim Hoa còn có tên là Ô Đồng Lầm. Giếng Ngọc gắn liền với hình ảnh trong câu ca dao cổ thành Nam rằng: "Đồng Lầm có vải nâu non/ Có hồ cá rộng có con sông dài". Ngay bên giếng Ngọc là đình Kim Liên được khắc ghi ba chữ "Trấn Nam Phương", cửa ngõ vào Hoàng thành và 36 phố phường xưa. Giờ đây mỗi lần về nhà đi qua giếng Ngọc là tôi lại nhớ đến tiếng đàn nguyệt réo rắt của chàng cung văn trong buổi hầu đồng cho bà ngoại tôi. Anh ta hát ngây ngất: "Đến đây trước giếng sau chùa/ Không yêu ta cũng bỏ bùa cho yêu".

Mới đây gặp ông Phan Huy Thảo, nhà phong thủy ở ngõ phố Kim Hoa kể cho tôi nghe biết bao chuyện về những con giếng cổ. Tuy dấu vết hàng trăm con giếng đã bị vùi lấp qua bao triều đại nhưng cách đây không lâu các nhà khảo sát đã tìm được những ngôi giếng khơi tại địa chỉ 18 Hoàng Diệu (Hoàng thành). Có tới 20 giếng tuổi đời ngàn năm được xây bằng đá ong, Giếng sâu chừng 6 mét nước trong vắt. Đó chính là nguồn mạch được chắt lọc qua nhiều tầng đất đá, thổ nhưỡng. Long mạch trong thế đất "Rồng chầu hổ phục" xưa được coi là phần âm đem lại sự cân bằng sinh thái cho Thăng Long bao đời nay. Cũng từ đây hàng trăm giếng được khơi lên trong từng con phố và xóm ngõ để lấy nước Ok986 vip game hot nhất.

Hiện có giếng tại đền Bạch Mã (phố Hàng Buồm) còn giữ nguyên tới 500 năm qua. Đền là nơi thờ thần Long Đỗ và cũng là dấu mốc của trấn kinh thành phía Đông. Nếu giếng Ngọc (phố Kim Hoa) ở phía Nam trấn kinh được định vị là "Mắt rồng" thì giếng ở đền Bạch Mã được coi là "Rốn rồng". Do đó đền có tên là Long Đỗ. Đây là thần có gốc của đất Hà thành được tôn thờ ngàn năm. Giờ đền luôn xuất hiện những đêm hát ca trù của những nghệ nhân Hà Nội.

Tôi còn nhớ có lần đã được nghe NSƯT Bạch Vân biểu diễn tại đây cùng CLB của chị. Câu hát ngày nào vẫn vang lên ở thềm sân bên giếng đền. Giọng hát của chị ngân vang ẩn chứa âm vực cổ phong phiêu du: "Thiều quang tuyết đượm vẻ thanh/ Lênh đênh rộn những đồ tranh vẽ rồng/ Ngậm ngùi nhớ cảnh hằng trông/ Lênh đênh bóng nguyệt chạnh lòng buồn thay..." (Thét nhạc - Ca trù).

"Cà phê Giếng"

Có thể coi giếng đền Bạch Mã (Hàng Buồm) vẫn được sử dụng có tuổi lâu đời nhất hiện nay. Nhưng ngôi giếng trong khu nhà thờ Lớn mới được coi là "đỉnh" thời gian. Hiện giếng vẫn tồn tại và được sử dụng sau hàng trăm năm. Hồi học cấp hai ở trường Đoàn Kết (phố Nhà Chung) chúng tôi cũng đã vào múc nước đùa nghịch ở giếng phía sau nhà thờ lớn.

Trước khi thực dân Pháp đến, giếng đã được đào bên cạnh một ngôi chùa. Giặc đã phá chùa xây nhà thờ và lập xóm đạo chung quanh. Nhưng con giếng buộc phải giữ lại sử dụng vì chưa có nước máy hay giếng khoan. Dân phố Nhà Chung, Nhà thờ và Lý Quốc Sư cùng các xóm đạo đều ăn nước giếng này một thời gian dài.

Đường đi vào giếng chính cổng số nhà 36 phố Nhà Chung. Điều thú vị hơn cả ở nét đẹp OK9 đã banh và kiến trúc của giếng. Miệng giếng được tạo biểu tượng hình cánh sen. Giếng có chiều sâu chừng 5 mét luôn đầy nước trong lành. Đây là một dấu tích hấp dẫn các nhà nghiên cứu vì có ý kiến cho rằng hình cánh sen của miệng giếng chỉ có từ thời Lý. Vậy giếng có tuổi đời thực mấy trăm năm còn là một dấu hỏi phía trước.

hi.jpg -0

Giếng ở ngõ 86 phố Hàng Trống. 

Nhưng có điều rất thú vị, dọc phố Lý Quốc Sư hay các phố gần kề như Phủ Doãn, Ấu Triệu, Hàng Trống... vẫn tồn tại những cái giếng cổ trăm năm. Người dân ở đây vẫn sử dụng hằng ngày và không ít nhà đã dùng nắp giếng để làm bàn trà và cà phê cho bà con chung quanh. Giếng đã trở thành nơi gặp gỡ giao lưu ngõ xóm như ngày nào vẫn chia nhau từng thùng nước ăn. Đó là dáng vẻ sinh hoạt của một thuở văn hóa giếng nước, cây đa, sân đình lâu đời của ông cha ta.

Nếp sống văn hóa này vẫn được bảo lưu đâu đó trong mỗi con phố và ngõ xóm tại khu phố cổ Hà Nội. Hình ảnh chàng thanh niên ôm cây ghi ta với ly cà phê bên giếng cổ tại phố Lý Quốc Sư quả mới lạ và hấp dẫn du khách qua lại. Giai điệu trầm lắng của Trịnh Công Sơn cùng tiếng chuông nhà thờ vang lên từ ngõ nhỏ làm xao xuyến lòng người. Nhưng có lẽ hình ảnh quán "Cà phê giếng" nổi bật hơn cả tại phố Hàng Chỉ. Họ OK9 thể thao xanh chín bên giếng cổ. Chủ nhân dùng nước giếng để pha cà phê tạo nên hương vị riêng. Bàn cà phê chính là mặt giếng và những chiếc ghế nhỏ xếp cho khách ngồi xung quanh.

Bà chủ hiệu cà phê giếng kể, xưa dân ngõ hàng Chỉ đều ăn nước giếng này. Sau khi có nước máy giếng như bị lãng quên. Hai mẹ con bà quyết định mở quán cà phê bên giếng. Khách chủ yếu là người bà con trong ngõ phố. Sau này không ít người ở xa tìm đến uống. Họ đâm nghiện vị cà phê nước giếng nơi đây nên thành khách thường xuyên. Bà chủ còn kể giếng được dân làng Tô Tịch đào từ khi phố cổ chưa hình thành.

Chung quanh phố Hàng Bông, Hàng Gai vẫn còn không ít giếng cổ trăm năm. Mấy ông khách còn cho biết tại số nhà 15 Phủ Doãn có một cái giếng còn nguyên vẹn với gạch đỏ xây chắc chắn. Hay trong ngõ Tạm Thương, hoặc ngõ 86 phố Hàng Trống mọi người vẫn dùng nước giếng cổ để pha trà. Tôi sực nhớ những câu thơ của cố thi sĩ Chế Lan Viên đã từng viết về ngõ Tạm Thương: "Ngõ bảy thước mà lòng muôn dặm/ Thương một đời đâu phải tạm thương". Chắc có phải vì câu thơ này mà một chủ nhà xây khách sạn đã cho khơi lại cái giếng cổ và dành đất cho nó như đọng lại nỗi niềm thương nhớ người Hà thành bên thôn làng xưa. Những lúc thư giãn chủ và khách đều mang cà phê bên giếng cổ để đón ngọn gió tràn về từ Hồ Gươm mát rượi.

Những đôi mắt nào

Câu chuyện cuối cùng mà tôi được nghe nhà phong thủy Phan Huy Thảo nhắc đến đó là giếng "Liên Khu Một" ở phố Hàng Bút. Tôi thực ngỡ ngàng khi ông kể cái giếng này được đào ngay bên công sự chiến đấu của các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô, trong 57 ngày đêm đánh giặc Pháp (từ ngày 19-12-1946 đến 18-2-1947). Đây là cuộc chiến đấu theo "Lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến" của Hồ Chủ tịch trước sự lâm nguy của Tổ quốc. Giếng nhỏ được đào lên cho các chiến sĩ Liên Khu Một dùng trong sinh hoạt và chiến đấu trên từng đường phố.

Đây là mặt trận trung tâm Hà Nội tại chợ Đồng Xuân. Hình ảnh "Người Hà Nội" của cố nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi cho đến nay vẫn vang lên hùng tráng. Nước giếng "Liên Khu Một" vẫn trong và ngọt theo thời gian. Biểu tượng người chiến sĩ ôm bom ba càng tấn công xe tăng giặc Pháp luôn luôn ngời sáng bất tử trong lòng người dân Thủ đô. Bên giếng nhỏ ngày ngày vẫn vang lên lời ca rộn ràng: "Bồi hồi chàng trai/ Những đôi mắt nào/ Quanh co chen quanh rộn ràng Đồng Xuân/ Xanh tươi bát ngát Tây Hồ/ Hàng Đào ríu rít, Hàng Bạc, Hàng Gai...".

Vương Tâm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.