“Đứa... đốt rơm” là “đứa” nào?

Bài ca dao “Ngồi buồn đốt một đống rơm” đã có nhiều hướng tiếp cận, phân tích khác nhau: “Ngồi buồn đốt một đống rơm/ Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào/ Khói lên đến tận thiên tào/ Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?”. Trên tinh thần tôn trọng các cách hiểu Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026, bài viết xin bàn góp một tiếng nói, vẫn có thể là chưa đúng, chưa lột tả cho được cái thần thái hồn cốt của bài ca dao, do vậy xin được lắng nghe, học tập ở những trao đổi, phản biện tiếp theo.

  • Cỏ - Nhìn từ biểu tượng!
  • Về gối đầu lên mùa thu
image001.jpg -0
Hình ảnh Ngọc Hoàng trong tín ngưỡng dân gian.

Các phân tích trước đó thường tập trung xoay quanh hình tượng “người đốt rơm”. Một, người đốt là anh nông dân nghèo đại diện cho giai cấp bị trị chống lại Ngọc Hoàng đại diện cho giai cấp thống trị. Vì chẳng có thứ vũ khí nào khác ngoài đống rơm nhỏ bé nên anh ta bèn đốt nó để “chống lại” Ngọc Hoàng. Cái “buồn” chỉ là cái cớ để nhân vật “hành động”. Vì thế vừa ngửi thấy khói là Ngọc Hoàng đã quyết “truy tìm” thủ phạm: “Đứa nào đốt rơm”.

Hai, người đốt là một địa chủ giàu có. Căn cứ vào đâu để nói vậy: vì từ trần gian tới “thiên tào” rất xa nên đống rơm phải rất to mới đủ khói để “vươn tới” trời. Vì là địa chủ cùng giai cấp thống trị với Ngọc Hoàng nên ông ta đốt rơm là một cách xã giao chào hỏi, trước hết là để khoe khoang của nả (giàu có nhiều ruộng cấy nhiều lúa nên có nhiều rơm), sau đó là cầu thân nhằm “liên minh” bóc lột.

Ba, cái người đốt này là một anh nông dân say rượu. Mà ngày xưa thì chuyện chè chén xôi thịt là một tệ nạn. Anh là nạn nhân. Giã rượu rồi buồn đến mức đốt cả đống rơm nhà mình. Anh ta tưởng tượng ra ngọn khói bay lên “thiên tào” và Ngọc Hoàng “ngửi” thấy mùi rơm đốt. Ẩn ý của bài ca dao là chống lại nạn rượu chè be bét bê tha… Bốn, bài ca dao phê phán nạn đốt rơm rạ bừa bãi gây mất vệ sinh môi trường đến mức Ngọc Hoàng - đại diện cho tự nhiên phải “ra tay” trừng phạt…

Xin được lý giải bài ca dao từ lý thuyết biểu tượng và lý thuyết đối thoại.

Trước hết xin có “phản biện”. Về ý “bốn” thì chắc chắn là gán ghép vì đã “hiện đại hóa”, kéo tinh thần nội dung bài ca dao về với ngày hôm nay, trong khi đó tác phẩm đã ra đời từ rất lâu rồi. Thời xưa rơm rạ rất quý không như thời bây giờ đun nấu đã có điện, cày bừa đã có máy nên thu hoạch lúa xong (cũng bằng máy) là đốt rơm rạ đến mức “gây mất vệ sinh môi trường”. Cách hiểu ba, xét trên văn bản không đủ cơ sở để cho rằng người đốt say rượu từ đó tố cáo nạn chè chén… Cách hiểu hai thiên về Ok9 cab trò chơi casino phổ biến học giai cấp coi Ngọc Hoàng cùng là “thống trị”. Đống rơm phải to nên đốt khói mới lên đến trời được là nhận định theo kiểu cơ giới. Cách hiểu ý một cũng đi theo hướng này, không có căn cứ nào để nhận định người nông dân lấy đống rơm làm “vũ khí” (!?). Chắc gì Ngọc Hoàng là kẻ thù của anh nông dân nghèo này?

Xin hình dung về “đống rơm” ngày trước có vai trò, vị trí… như thế nào trong OK9giaitri đăng nhập người nông dân. Là phần thân trên của cây lúa chín, sau khi đưa về nhà tuốt hết hạt thóc, phần còn lại của bông lúa là rơm. Khác với rạ, là phần thân dưới của cây lúa khi gặt sẽ bỏ lại ở ruộng để đưa về sau dùng vào việc lợp nhà và đun nấu. Rơm vàng ươm thường dành làm thức ăn cho trâu bò, còn là nguyên liệu quan trọng để nuôi trồng nấm rơm (một loài nấm chuyên mọc trên rơm).

Rơm còn được trộn đều với bùn ao để trát vách. Rơm phơi khô được dồn vào một chỗ “đánh” thành đống, có nơi gọi là cây rơm. Nhà nào có ruộng nhà ấy có đống rơm. Càng nhiều ruộng đống rơm càng to, dần dần nó trở thành biểu tượng cho sự trù phú, no đủ. Cạnh đống rơm mượt mà là đống rạ xù xì, thô cứng. Thế nên đống rơm “thi vị” hơn, hay được trẻ con chọn làm nơi trốn tìm… Rơm cũng được bà con “yêu quý” hơn. Rơm được bện thành những chiếc chổi quét nhà, quét sân, nhẹ, bền lại óng ả đẹp.

Vào mùa đông rét, khi ra đồng bà con bện chặt rơm thành “nùn rơm” vừa để sưởi ấm vừa có lửa để hút thuốc lào. Đêm mùa đông ngày xưa rất lạnh, thường là đắp chiếu (mấy nhà có chăn bông) nên muốn ấm áp thì nằm ổ rơm. Sau này nhà thơ Nguyễn Duy trong bài “Hơi ấm ổ rơm” nói rất hay, thật và tình cảm: “Mẹ chỉ phàn nàn chiếu chăn chả đủ/ Rồi mẹ ôm rơm lót ổ tôi nằm/ Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm/ Tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng/ Trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm/ Của những cọng rơm xơ xác gầy gò/ Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no/ Riêng cái ấm nồng nàn như lửa/ Cái mộc mạc lên hương của lúa/ Đâu dễ chia cho tất cả mọi người”. Trước đó trong thơ Huy Cận rơm rạ cũng thành thi liệu “Đường làng rơm rạ với mùi thơm” (Đi giữa đường thơm)…

Như vậy rơm rất quý, gần gũi, thân thiết với bà con nông dân. Nên chẳng dễ có người nông dân lương thiện nào “buồn” mà đốt cả đống rơm cả. Chỉ duy đốt rơm vào việc… thui chó. Khi “tháng ba ngày tám” nhàn rỗi hoặc dịp hội hè, giỗ chạp… bà con hay giết chó làm Ok 9 được vận hành bởi Liên Minh OKVIVP. Vì chó dễ nuôi, không to quá như lợn, lại dễ chế biến làm nhiều món, dễ chia phần,… Thui chó thì dùng rơm là tiện nhất, tốt nhất. Da chó sẽ vàng ươm, không bị nứt. Thịt sẽ thơm và ngon…

Thế thì việc đốt đống rơm kia không phải nghĩa thực, nghĩa đen mà mang nghĩa biểu tượng. Xin đưa ra một dị bản khác: “Làm chay đốt bảy đống rơm/ Khói lên nghi ngút chẳng thơm chút nào/ Ngọc Hoàng phán hỏi Nam Tào/ Ở dưới dương thế đứa nào đốt rơm?”. “Làm chay” là làm lễ cúng, theo quan niệm dân gian xưa, để cầu cho linh hồn người chết được siêu thoát. “Nam Tào” là vị tiên ông trông coi bộ sổ sinh của con người ở trần gian, tức sổ những người được sinh ra đời, gọi là sổ Nam Tào. Như vậy Nam Tào là “cánh tay phải” giúp việc đắc lực cho Ngọc Hoàng. Còn “thiên tào” là nơi đặt “cơ quan” Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 của cõi trời, người cao nhất là Ngọc Hoàng (còn gọi là Ngọc Đế hoặc Thiên Đế, Ngọc Hoàng Thượng Đế) tức vị vua tối cao của bầu trời, cai quản Thiên đình/tào. Vốn người trần, tu luyện một nghìn bảy trăm năm mươi kiếp, mỗi kiếp mười hai vạn chín nghìn sáu trăm năm mà thành Ngọc Hoàng Thượng Đế để cai quản toàn bộ lục giới: Nhân, Thần, Ma, Yêu, Quỷ, Tiên. Giới thiệu sơ qua như vậy cũng đã thấy Ngọc Hoàng rất nhiều việc lớn lao, trách nhiệm rất ghê… thế mà lại đi chú ý cái việc rất nhỏ bé, vớ vẩn là chuyện “đốt rơm”?

image003.jpg -1
Cây rơm nhà quê.

Xin đọc lại lần nữa văn bản: “Ngồi buồn đốt một đống rơm/ Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào/ Khói lên đến tận thiên tào/ Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?”. Có hai thế giới: trần gian và thiên tào. Có hai nhân vật: anh nông dân “buồn” (được ẩn đi) và Ngọc Hoàng tối cao. Nối hai thế giới này là “khói bay nghi ngút”, dĩ nhiên “chẳng thơm chút nào”.

Dân gian đã kiến tạo một bức tranh tương phản đối lập của mô hình truyện cười dân gian: trên - kẻ có quyền cao vút/ dưới - kẻ lao động nghèo dưới đáy. Cách hiểu này không suy diễn vì căn cứ vào hình tượng bài thơ và liên hệ với tín ngưỡng dân gian, có lẽ ai cũng hiểu vậy. Với người nông dân, rơm quý thế nên lý do dù “buồn” đến mấy cũng chẳng thể dẫn tới hành động đốt cả “đống rơm”.

Vả lại ngày xưa đống rơm, đống rạ gần nhau, thường “đánh” ở trong sân, trong vườn, gần với nhà, với bếp để tiện việc đun nấu và “rút” rơm cho trâu bò ăn, nên đốt đống rơm là việc nguy hiểm dễ gây ra hỏa hoạn… Ngọc Hoàng chức to thế, lẽ ra phải nghĩ đến những việc tầm “vũ trụ” “kinh thiên động địa” chứ sao lại quan tâm đến việc nhỏ nhặt dưới hạ giới có kẻ đốt rơm. Thế nên dứt khoát đây không phải chuyện thật. Đó chỉ là mô hình giả định. Để bật ra ý gì?

Một là, giễu cợt, phê phán những người (nông dân) sống OK9giaitri đăng nhập nhàn nhạt, vô vị, vô công rồi nghề vô tích sự không có ý chí, không hoài bão, không lý tưởng, quanh quẩn, buồn chán vớ vẩn mà làm những việc vô nghĩa, dại dột, chẳng đâu vào đâu, có khi làm thiệt hại đến chính tài sản, thành quả lao động của mình, gia đình mình, thậm chí dễ gây nguy hiểm!

Hai là, phê phán, mỉa mai những kẻ có quyền cao chức trọng nhưng sống như người thừa, không suy nghĩ trăn trở, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu tư duy quản lý  nên không nghĩ được những điều xa xôi, chiến lược nên chỉ biết quan tâm (ngửi) đến cái vặt vãnh, nhỏ bé, tầm thường, ít ý nghĩa, vô giá trị.

Soi vào thời nay vẫn thấy hai loại người này, còn nhiều lắm. Vẫn thế, vẫn vậy, ít thay đổi!

Mới hay dân gian thâm thật. Xin được bạn đọc góp ý!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.