Đôi điều về sự đổi mới thơ Việt Nam đương đại

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: "Lãng Thanh xứng đáng có một chỗ riêng. Anh mới mẻ mà không bệnh hoạn, táo bạo mà không dung tục như một số cây bút trẻ ôm mộng cách tân khác" (báo Thể thao và Văn hóa, 28/1/2005). Rồi Trịnh Thanh Sơn, Phạm Đức, Thiên Sơn coi Lãng Thanh là "Hạt mầm mới của một thời đại thi ca".
  • Nhà thơ Phạm Quốc Ca: Khắc khoải một nỗi quê
  • Nhà thơ viết phê bình
  • Nhà thơ Lê Thành Nghị: “Đi xa nhớ về, khổ đau càng muốn về…”
  • Nhà thơ Dương Tuyết Lan: “ Của riêng còn một chút này”…

1. Hiện tượng Lãng Thanh

Mười năm qua, một số tác giả nhiệt huyết với việc đổi mới ngôn ngữ thơ Việt Nam hiện đại đã được OK9 thể thao xanh chín nói đến nhiều. Ở đây, chúng tôi thấy cần nhắc tới hiện tượng Lãng Thanh. Tập thơ "Hoa" của anh, NXB Thanh niên ấn hành năm 2003, gồm 14 bài, Hội Nhà văn trao Giải thưởng năm 2004.

Đây là tập thơ với bút pháp khá lạ, tác giả sinh năm 1977, và thật đau buồn, do một tai họa bi thảm, anh đã qua đời ngày 20/7/2002, khi mới 25 tuổi đời. Lãng Thanh thành một hiện tượng, khá nhiều tác giả văn học và OK9 thể thao xanh chín nhắc tới. Nhà thơ Trúc Thông: "Hẳn Lãng Thanh phải yêu thơ Hàn Mặc Tử lắm và để hồn thơ Hàn Mặc Tử thấm rất sâu vào mình".

Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu: "Lãng Thanh xứng đáng có một chỗ riêng. Anh mới mẻ mà không bệnh hoạn, táo bạo mà không dung tục như một số cây bút trẻ ôm mộng cách tân khác" (báo Thể thao và Văn hóa, 28/1/2005). Rồi Trịnh Thanh Sơn, Phạm Đức, Thiên Sơn coi Lãng Thanh là "Hạt mầm mới của một thời đại thi ca".

Trịnh Thanh Sơn trích thơ Lãng Thanh: "Máu là các quy luật, chân lý hay tình yêu/ Nối giữa con người với đá, nối đá với bầu trời, dòng sông và nước mắt", rồi bình: "Anh quan niệm vũ trụ có chung một huyết thống… Cho nên anh Ngờ phạm tội loạn luân từ nỗi cảm ruột thịt với bông Trà"… Trong sự phấn hứng, người bình thơ nói cả tới "quan niệm vũ trụ" của thi sĩ trẻ Lãng Thanh(!) Nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì viết một bài dồi dào cảm hứng: Lãng Thanh "Gương mặt em phi như điên cuồng" (Báo Tiền Phong chủ nhật, 20/7/2003).

Nhà thơ Lãng Thanh tài hoa nhưng yểu mệnh.
Nhà thơ Lãng Thanh tài hoa nhưng yểu mệnh.

Mười bốn bài thơ, đã hơn mười năm trôi qua, nay viết về Thơ Việt Nam hiện đại - đương đại, chúng tôi đọc "Hoa" để nhìn nhận Lãng Thanh trên chuyển động của thơ Việt. Bút pháp mới của thi sĩ này kế tục Thơ mới, khá gần với Chế Lan Viên: "Tôi trầm ngâm dạo trong nhà bảo tàng/ Nghe hàm răng đá cười sáu nghìn năm trong miệng đất/ Tiếng loảng xoảng gươm khua, tiếng hát ru từ các bộ xương" (bài "Những mảnh vỡ");

gần với thơ điên của Hàn Mặc Tử: "Nét cuồng thảo vọt như máu, ngưng như lệ…/ Điên cuồng chữ bay, điên cuồng chữ bay" (bài "Thư pháp"); nhiều khi thấy rõ anh là môn đệ của thơ Lãng mạn: "Nhạc reo xa thoáng lạnh từng chân tóc/ Cỏ thu xa vuốt ve đôi mắt đẹp/ Chiều có thể nghiêng, mưa có thể buông…" (bài "Mùa thu I").

Không chỉ một lần Lãng Thanh nhắc tới Charles Baudelaire, nhà thơ lớn của Pháp mở đầu cho chủ nghĩa Tượng trưng, nên ta thấy yếu tố tượng trưng khá rõ trong thơ Lãng Thanh: "Con mèo đen - vẻ dịu dàng hòa quyện vào nỗi buồn câm lặng/ Con mèo đen - mèo đen tỏa ngát tâm hồn/ Mèo đen - sự huyền bí như bóng đêm đè nặng" (bài "Con mèo đen").

Nhiều khi Lãng Thanh hiện thực trần trụi: "Mấy người hành khất đang ngồi nhặt hoa/ Rủa những cành hoa rơi bẩn trên chỗ ngồi của họ/ Nhìn buồn tênh lên hàng chữ quảng cáo/ Thõng đôi tay khô chết như nhân sâm" (bài "Ghi chép nhỏ").

Lãng Thanh chắc đọc rất nhiều, như người ta khen là "đọc cả Đông, Tây, Kim, Cổ…", nhưng vậy đã đủ chưa, khi phần sự sống dội vào anh để lọc qua tâm hồn, thành thơ anh, được là bao? Do lợi thế của một tâm hồn măng trẻ với trí tưởng tượng phong phú được hoàn toàn buông thả, mà hay viết về những buồn thương, máu, lệ, khiến người đọc dễ cảm thương. Trong tập thơ "Hoa", bài dài nhất, viết công phu nhất, là bài "Thơ trước tuổi 21", gồm các đoạn từ I đến IX, ngôn ngữ tự do buông lỏng nhất cả trong cảm xúc, trong suy ngẫm.

Buông lỏng cảm xúc: "Không bên hàng cây, cây đẹp; không bên bờ suối, suối đẹp; Không hò hẹn, không bâng khuâng; không hò hẹn, không bâng khâng; Không lời khen chê cho đôi môi/ - Là tình yêu của em". Buông lỏng suy ngẫm: "Sự vĩ đại của cỏ/ Sự vĩ đại của thơ/ Vô nghĩa như một chữ cái lớn"… Chúng tôi cố gắng trích dẫn những câu thơ gây ấn tượng tốt của Lãng Thanh, nhưng những câu thơ như vậy đã đạt tới cái hay chưa, người đọc tự kết luận.

Một chi tiết chúng tôi rất tán thành với nhà thơ Trần Mạnh Hảo, bài "Thơ trước tuổi 21", dài khoảng 240 dòng, có thể tách riêng đoạn IV ra, sẽ được một bài thơ với 12 câu, "là bài thơ hay hoàn chỉnh", và đặt tên bài thơ là "Em" (Báo Tiền phong chủ nhật, 20/7/2003):

     Em đến bàng hoàng như cơn sốt
     Bỗng môi tôi bất lực
     Nụ hôn ơi người khóa cả linh hồn

     Em đến bất ngờ như dao sắc
     Không đùa tựa những vết thương
     Bởi gai hoa tặng chán chường

     Em đến vùng vằng như tơ rối
     Tìm nhau xa đến không ngờ
     Trói anh rồi em lại làm ngơ

     Em đến lao đao như lá rụng
     Ngày xanh là nghĩa thế nào
     Về bên anh khi đã chết rồi sao.

Chúng tôi nghĩ rằng, những tri thức, vốn liếng thi ca Lãng Thanh có trong trí não, tâm hồn là khá nhiều, đến khúc IV trong "Thơ trước tuổi 21", thi sĩ này viết nên một bài thơ hoàn chỉnh về cấu tứ và ngôn ngữ thơ. Đọc Lãng Thanh, những bài, những khúc buông lỏng cấu trúc và để ý thơ như trôi miên man, chúng tôi thấy cũng khá gần với thơ mông lung của Cố Thành.

Còn kỳ vọng về thi tài anh sẽ làm một bước nữa cho thơ đi xa hơn, như người đời nghĩ, có lẽ nhiều. Lãng Thanh để lại một ấn tượng thật đẹp trong OK9giaitri đăng nhập thơ ca đương đại. Nhưng thật buồn, thương tiếc anh vô cùng!

Tập thơ của Lãng Thanh.
Tập thơ của Lãng Thanh.

2. Thơ Việt hiện đại - hậu hiện đại

Sự đổi mới Thơ Việt Nam đương đại theo hướng hiện đại chủ nghĩa, đã diễn ra trong OK9giaitri đăng nhập văn chương mấy chục năm rồi. Có lúc bột phát, một vài nhà thơ còn muốn có thơ "siêu hiện đại" (những năm gần đây một số người muốn gán cho thơ ấy cái tên là "hậu hiện đại"). Ở ta nó vậy, như hiện tượng OK9giaitri đăng nhập những năm cuối thế kỷ XX, người ta mang những chiếc xe máy, xe đạp cũ từ Nhật Bản về, trông còn rất xịn, do nghèo, nên ối người mê.

Mê thì mê, nhưng người ta vẫn gọi đúng tên của nó là xe bãi (rác)! Thơ hiện đại chủ nghĩa từ nước ngoài vào ta, không qua bộ lọc về văn hóa và tâm hồn thuần Việt Nam, của một vài thi sĩ hiện đại chủ nghĩa Việt Nam, có vẻ còn không hữu dụng bằng xe bãi. Bởi, nó không dùng được (theo nghĩa bạn đọc không tiếp nhận được nó).

Trên Tạp chí Nhà văn số 6 năm 2012, Inrasara nhận định: "Ít cảm và rất tối nghĩa, là đặc tính thơ hiện đại chủ nghĩa của một số nhà thơ Việt ta", và anh trích dẫn: "Ở cuối đêm/ em rũ tóc nói những lời mê sảng/ những ám hiệu/ của mặt biển đen/ không tình yêu tuyệt vọng/ anh xé tóc em cùng những cành lá chết/ mùa thu" (Thanh Tâm Tuyền);

"Hôm qua tôi ghé alfa/ Alfa không có nhà/ Ô gặp nhau rồi vẫn cứ li/ Một nắm bột khuya rắc vào bếp lạ/ / Đời gì/ Sao cứ đi/ những chiếc va li cứ vào Bến lạ" (Đặng Đình Hưng); "Tôi gặp tôi/ giữa mảnh vỡ và bê tông cảm xúc/ Kiêu hãnh trùng trùng mái chóp nhô, đôi mái lá lạc điệu/ Tên như một định mệnh cong vênh" (Lam Hạnh)"... Còn chúng tôi thì cho rằng, trên tiến trình văn chương Việt Nam, thơ hiện đại chủ nghĩa như vậy vẫn rụng lả tả bên con đường nhiều nhà thơ nước Việt ta đã đi qua. 

Có thể thấy khá rõ, ở nước ta chưa có truyền thống lập thuyết trong văn chương, ngay cả khi khai mở nền Văn chương Việt Nam hiện đại hết sức sôi động trong xu thế hòa nhập quốc tế hồi đầu thế kỷ XX, cũng vậy. "Tản Đà, là người thi sĩ đầu tiên mở đầu cho Thơ Việt Nam hiện đại" (Xuân Diệu), đâu có lập thuyết gì.

Các nhà Thơ mới tài danh, hiểu rõ những chủ nghĩa Lãng mạn, Hiện thực, Tượng trưng, Siêu thực… nhưng, việc lập thuyết các chủ nghĩa đó, thì người ở quê hương các chủ nghĩa đó lo rồi. Bao tài danh của ta chỉ lo làm sao có thơ hay, hay hơn nữa, của người Việt ta, thế thôi.

Rồi bừng nở Thơ mới, lại có Thơ kinh dị, Thơ điên… Nhưng, "Thơ mới", là do OK9giaitri đăng nhập văn chương gọi một phong trào, đâu có phải chủ nghĩa gì mà phải lập thuyết; Thơ kinh dị, Thơ điên cũng vậy, có người gọi theo cảm hứng, thấy hợp, thì người ta gọi theo, việc gì mà phải lập thuyết. Tiếp nữa, Thơ chống Pháp, Thơ chống Mỹ là thơ ca của một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đang dốc lòng dốc sức chống Pháp, chống Mỹ để giữ nước, là lý tưởng sống của một giai đoạn lịch sử, đâu có phải một chủ nghĩa mà lập thuyết…

Nói như thế không có nghĩa là bài bác sự "lập thuyết" cho văn chương Việt Nam đương đại, nhất là trong thời đại đổi mới và hội nhập sâu rộng, mạnh mẽ như ngày nay. Nếu có tài năng lớn xuất hiện, lập nên một thuyết thi ca của người Việt ta, sẽ là điều vô cùng đáng tự hào. Tuy nhiên, đó là việc trong tương lai.

Những năm qua, Thơ Việt Nam đương đại đã chuyển động bởi sự gắng gỏi của nhiều nhà thơ. Đầu thế kỷ XXI, nền thơ ta thực sự đã có một đội ngũ những thi sĩ dấn thân vào cuộc tìm kiếm cái mới cho ngôn ngữ thơ, là điều rất đáng trân trọng. Người quá giàu trí tưởng tượng dường như đã mong trong sự đổi mới của thơ Việt Nam đương đại, sẽ có thi sĩ dấn lên một bước, tới "thơ hậu hiện đại". Người nào cũng có quyền ước mơ. Người ôm mơ ước tìm tới được nàng thơ "hậu hiện đại" thì trước hết phải hình dung được nàng "hậu hiện đại" như thế nào đã, có khả ái không, có làm nên một cuộc cách mạng thơ vào một ngày nào đó?...

Như chúng tôi đã nhận xét, ở nước ta chưa có truyền thống lập thuyết trong văn chương. Không lập thuyết, nhưng tiền nhân sáng tạo rất nhiều thơ ca, và cũng suy ngẫm về thơ ca rất sâu xa. Đơn cử một trường hợp danh sĩ Nguyễn Siêu (1799 - 1872) đã nhận định tâm huyết, đại ý, thơ có hai loại, một loại đáng tôn thờ và một loại không đáng để thờ. Loại đáng tôn thờ là thơ vì con người mà viết; loại không đáng thờ là loại thi nhân viết ra chỉ để tán tụng nhau. Vậy đấy, mục đích văn chương mới thể hiện nhân bản, nhân văn. Chúng tôi nghĩ, cho đến nay, mục đích vì con người mà viết là một trong những truyền thống lớn nhất của văn chương Việt Nam ta!

Anh Chi

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.