Đọc lại bài thơ "Cuộc chia ly màu đỏ" của Nguyễn Mỹ

"Cuộc chia ly màu đỏ" gần như là một bản tuyên ngôn của tình yêu thời cách mạng, một bài tùy bút bằng hình ảnh và nhạc điệu, khẳng định và cổ súy cho một quan niệm mới về tình yêu với ba nội hàm của một trật tự luận lý nhất quán: Yêu nhau thắm thiết  -  nhưng vì lý tưởng, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc - hy sinh hạnh phúc nhưng trong lòng vẫn thuỷ chung, tình yêu vẫn nguyên vẹn.

  • Nguyễn Du và bài thơ “Triệu Vũ Đế cố cảnh”
  • “Thời nắng xanh & những bài thơ khác”trong cảm xúc của tôi

Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ 
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa
Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi
Và rạng đông đã bừng trên nét mặt
- Một rạng đông với màu hồng ngọc -
Cây si xanh gọi họ đến ngồi 
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai.
Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp!
Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá si
Và người chồng ấy đã ra đi . . .

Cả vườn hoa đã ngập tròn nắng xế 
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào
"Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau..."

Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi
Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người
Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp
Một làng xa giữa đêm gió rét . . .
Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi
Như không hề có cuộc chia ly. . .

                                                      9/1964

Đọc lại bài thơ
Nhà thơ liệt sĩ Nguyễn Mỹ (1935 – 1971).

Như chúng ta biết, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là đỉnh cao của cuộc cách mạng giải phóng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, vốn là một biến động cực kỳ to lớn, có sức lay chuyển đến tận cùng mọi số phận, mọi tình cảm, mọi quan niệm sống của toàn dân ta. Sức thuyết phục và lôi cuốn của nó đã chi phối, tạo lập lại toàn bộ nếp sống của con người bằng cái mà ta gọi là ánh sáng của lý tưởng. Và tình yêu cũng nằm trong vầng hào quang đó.

"Cuộc chia ly màu đỏ" gần như là một bản tuyên ngôn của tình yêu thời cách mạng, một bài tùy bút bằng hình ảnh và nhạc điệu, khẳng định và cổ súy cho một quan niệm mới về tình yêu với ba nội hàm của một trật tự luận lý nhất quán: Yêu nhau thắm thiết  -  nhưng vì lý tưởng, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc - hy sinh hạnh phúc nhưng trong lòng vẫn thuỷ chung, tình yêu vẫn nguyên vẹn.

Tóm lại, đó là cách xử lý mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng vốn đã thành một định đề trong văn học cách mạng, một môtíp quá quen thuộc, không có gì phải nói thêm. Điều đáng nói ở đây là tại sao với một nội dung có vẻ khô cứng, đầy tính luận đề như thế, bài thơ lại thực sự là một cơ thể tươi xanh, tràn đầy sức sống và có khả năng lôi cuốn lòng người như vậy?

Có thể nói, Nguyễn Mỹ đã khéo gây ấn tượng cho ta ngay từ cái đầu đề. Bằng cách sử dụng một ẩn dụ táo bạo vừa chính xác về nội hàm, vừa tươi tắn, mạnh mẽ trong biểu cảm, bài thơ có ngay không khí hiện đại mà trong thơ ta trước đây ít xuất hiện, trừ vài trường hợp trong Thơ Mới. Cùng một cách đặt tên như tác phẩm sân khấu - Được vận hành bởi Liên Minh OKVIVP nổi tiếng của Liên Xô "Bi kịch lạc quan", nhưng cái nhan đề của Nguyễn Mỹ rõ ràng giàu chất thơ hơn.

Đọc lại bài thơ
Thắp hương tri ân các Anh hùng - Liệt sĩ.

Bước vào bài thơ, ta dễ dàng thấy cách sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất mang dụng ý của tác giả:

Tôi nhìn thấy...
Gió nói tôi nghe...
Nhưng tôi biết…

Cách dùng ấy gây hiệu quả như thế nào chắc ai cũng rõ. Ở đây, từ góc độ trực tiếp, tác giả thoải mái để tường thuật lại một cách "mục sở thị" những gì mình nhìn thấy, nghe thấy và cảm thấy. Từ những tiếp nhận trực giác ấy, tác giả toàn quyền suy luận mà không sợ bị lạc lõng. Bài thơ là sự nối tiếp, đan cài giữa ba hình thức diễn đạt: Kể, tả và suy tưởng.

Ta bắt gặp ở đây một ngôn ngữ kể gọn và thưa thoáng, chỉ nhấn nhá vào những chi tiết cần thiết: Một cô gái mặc áo đỏ, tiễn chồng đi làm nhiệm vụ ở xa, giữa một buổi trưa cuối thu, trong một vườn hoa, cô cầm trong tay một chiếc nón, họ tới ngồi dưới một gốc si xanh, cô gái để rơi những giọt nước mắt, nhưng gương mặt thì sáng bừng, v.v... và v.v...

Dẫu sao, đó vẫn là những chi tiết có thực và cụ thể, không thể tùy tiện phóng túng, nhưng khi chuyển sang ngôn ngữ tả, và nhất là ngôn ngữ bình, có thể nói nhà thơ tín đồ của trường phái lãng mạn cách mạng này đã không ngần ngại tung ra những từ ngữ đẹp đẽ, sáng láng nhất, những hình ảnh rực rỡ nhất, những lý lẽ hùng hồn nhất. Những từ ngữ ấy dường như độc chiếm cả bài thơ, đến nỗi không cần thiết phải trích ra đây.

Vẻ đẹp của đối tượng miêu tả có một phần nằm trong khung cảnh khách quan có thể nhìn thấy, nhưng rõ ràng phần chính yếu là toát lên từ bên trong tâm hồn cao quý của nhân vật trữ tình trong thơ: Người con gái và người con trai đặt tình yêu riêng trong tình yêu lý tưởng. Và còn quan trọng hơn nữa là với một tâm hồn đồng điệu, người làm thơ, vừa là chứng nhân vừa là đồng nhân vật của thơ, đã để lòng mình cất lên những tiếng đồng cảm tuyệt vời.

Chính sự hòa điệu và cùng một đẳng cấp tâm hồn này khiến cho hai yếu tố khách thể và chủ thể của bài thơ hầu như quyện làm một và phát sinh một sức cộng hưởng tình cảm mạnh mẽ. Cường độ tình cảm mãnh liệt ấy phả vào từng từ ngữ, hình ảnh mang màu sắc lãng mạn, tạo ra một giọng điệu cuồn cuộn đủ sức tươi xanh hóa cả những mệnh đề triết lý, đủ sức thổi sức sống vào những con chữ đao to, búa lớn, vốn rất dễ gây cảm giác sáo rỗng.

Đó chính là khả năng đặc biệt của nhà thơ cao tay ấn này: Khả năng tình cảm hóa những gì khô cứng, ráo hoảnh thậm chí vô hồn - từ ánh nắng chan hòa cả vườn hoa, những cánh hoa nhỏ rung nhè nhẹ, còn gió thì cất tiếng thì thào như tiếng thủ thỉ tình tự bên tai người, nhưng là để nói một điều to tát như... một câu khẩu hiệu: "Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau...".

Đoạn bình trên đây trong bài thơ dẫu sao vẫn diễn ra trên cái nền thực của buổi tiễn đưa, nhưng đến đoạn cuối (gồm 8 câu) mới thực là triết lý chay. Tác giả vận dụng tất cả những dữ kiện đã có để phán đoán như đinh đóng cột về tương lai: Tình yêu của người ở lại sẽ sống mãi trong lòng người ra đi, trở thành niềm động viên và sức mạnh cho anh trong cuộc trường chinh:

"Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy
Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy"

Hai câu thơ có thể tiêu biểu cho giọng điệu của Nguyễn Mỹ trong bài thơ này. Điệp ngữ "cái màu đỏ" ba lần lặp lại trong chỉ hai dòng thơ hiển nhiên là muốn diễn đạt một điều khẳng định bất di bất dịch, một sự tô đi tô lại đến "quá tam ba bận" nghe có vẻ như tranh cãi, như "khiêu khích, gây sự" ấy đặt vào đây lại rất hợp. Lý sự chay đấy, nhưng người nói nhiệt tình quá, rút gan rút ruột quá, nên khiến ta bị huyễn hoặc, ta cảm động, và tin. Thế mới hay: nói như thế nào cũng quan trọng không kém nói cái gì.

Cũng cần nói thêm là trong lối viết đầy tính luận lý này, để thuyết phục người đọc, tác giả vẫn dùng thủ pháp cấu tứ: Triển khai ý tưởng khái quát trên những hình ảnh cụ thể có gốc thực - cái màu đỏ được giăng qua suốt bài thơ như một sợi chỉ bền nối từ chiếc "áo đỏ" đến những "bông hoa chuối đỏ tươi", tiếp đến "ánh lửa hồng" trong bếp, để rồi tiếp tục đi hun hút về phía trước. Cái màu đỏ có tính biểu tượng và ước lệ ấy chính là bộ xương vững chắc tạo nên thế đứng cho bài thơ, là điểm sáng chung đúc tinh anh của cả một thế hệ những con người sống, chiến đấu và yêu nhau trong ánh sáng của những lý tưởng đẹp đẽ, đầy sức quyến rũ.

Anh Ngọc

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.