Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.

  • Nhà văn, Dịch giả Đoàn Tử Huyến - Người truyền lửa tri thức Văn hóa Đông Tây
  • Nhà văn, dịch giả Kiều Bích Hậu: Bền bỉ kết nối những tâm hồn yêu văn học

Dịch giả Bùi Xuân là một gương mặt văn chương lặng lẽ và bền bỉ ở miền Trung. Khởi nghiệp với hai tập thơ “Thơ đề trên chiếc lá rụng” và “Ẩn dụ mưa”, ông lựa chọn đi theo con đường dịch thuật khi bắt đầu đam mê dịch thơ Tagore.

Tính đến hiện nay, dịch giả Bùi Xuân đã chuyển ngữ cả thảy ba tập thơ của thi hào Ấn Độ. Tác phẩm dịch thuật mới nhất “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết” cũng là một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á tâm huyết của dịch giả Bùi Xuân, nhằm cung cấp những dữ liệu cốt lõi để công chúng hiểu thêm về phụ nữ cầm bút trên con đường chinh phục đỉnh cao sáng tạo.

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học -0
Dịch giả Bùi Xuân.

Tính từ giải Nobel đầu tiên được trao tặng vào năm 1901 đến nay, đã có 122 tác giả đoạt giải Nobel văn học. Trong đó, có 18 phụ nữ được hội đồng Nobel vinh danh. Đáng chú ý, cả thế kỷ 20 chỉ có 9 phụ nữ cầm bút đoạt giải Nobel, nhưng chỉ ¼ thế kỷ 21 đã có 9 phụ nữ cầm bút đoạt giải Nobel. Nghĩa là, vị thế phụ nữ càng ngày càng được củng cố cho sự phát triển chung của nhân loại.

Thế kỷ 20 có 9 phụ nữ cầm bút đoạt giải Nobel văn học: nhà văn nữ Thụy Điển Selma Lagerlof đoạt giải năm 1909, nhà văn nữ người Ý Grazia Deledda đoạt giải năm 1926, nhà văn nữ Na Uy Sigrid Undset đoạt giải năm 1928, nhà văn nữ Mỹ Pearl Buck đoạt giải năm 1938, nhà thơ nữ Chile Gabriela Mistral đoạt giải năm 1945, nhà thơ nữ Đức gốc Do Thái, quốc tịch Thụy Điển Nelly Sachs đoạt giải năm 1966, nhà văn nữ Nam Phi Nadine Gordimer đoạt giải 1991, nhà văn nữ Mỹ Toni Morrison đoạt giải năm 1993, nhà thơ nữ Ba Lan Wislawa Szymborska đoạt giải năm 1996.

Bước qua thế kỷ 20, có thêm 9 phụ nữ cầm bút đoạt giải Nobel văn học: nhà văn nữ Áo Elfriede Jelinek đoạt giải năm 2004, nhà văn nữ Anh Doris Lessing đoạt giải năm 2007, nhà văn nữ Đức gốc Romania Herta Müller đoạt giải năm 2009, nhà văn nữ Canada Alice Munro đoạt giải năm 2013, nhà văn nữ Belarus Svetlana Alexievich đoạt giải năm 2015, nhà văn nữ Ba Lan Olga Tokarczuk đoạt giải năm 2018, nhà thơ nữ Mỹ Louise Glück đoạt giải năm 2020, nhà văn nữ Pháp Annie Ernaux đoạt giải năm 2022, nhà văn nữ Hàn Quốc Han Kang đoạt giải năm 2024.

Giải Nobel văn học được cân đong bằng thành tựu tích lũy lâu dài, nên số tuổi trung bình của phụ nữ cầm bút đã hân hạnh chạm vào tấm huy chương có ghi dòng chữ “bằng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, sự sáng tạo làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn” là 66 tuổi. Hai phụ nữ cầm bút được giải Nobel văn học ở độ trung niên là Sigrid Undset và Pearl Buck, cùng 46 tuổi khi nhận thưởng. Phụ nữ cầm bút cao niên nhất khi đoạt giải Nobel văn học là Doris Lessing, ở tuổi 88.

Trong 45 năm đầu của giải Nobel văn học, bình quân 9 năm có một nhà văn nữ đoạt giải Nobel văn học. Thế nhưng, từ nhà văn nữ thứ năm đến nhà văn nữ thứ sáu đoạt giải Nobel văn học lại cách xa đến 21 năm. Cụ thể là 21 năm sau khi nhà thơ nữ Chile Gabriela Mistral nhận giải, thì mới đến nhà thơ nữ người Đức gốc Do Thái quốc tịch Thụy Điển Nelly Sachs được bước lên bục danh vọng.

Đặc biệt, nhà thơ nữ Nelly Sachs đã đồng nhận giải Nobel văn học năm 1966 với nhà văn Israel Shmuel Yosef Agnon. Lý do được Hội đồng Nobel văn học cho biết: “Giải thưởng được chia đều cho Shmuel Yosef Agnon vì Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 kể chuyện đặc trưng sâu sắc với mô típ từ cuộc sống của người Do Thái và cho Nelly Sachs vì lối viết trữ tình và kịch tính xuất sắc, diễn giải vận mệnh của Israel bằng sức mạnh cảm động”.

Phụ nữ cầm bút đầu tiên đoạt giải Nobel văn học là nhà văn nữ Thụy Điển Selma Lagerlof (1858-1940). Hội đồng giải thưởng Nobel đã tuyên dương Selma Lagerlof: “Đối với bà, mọi thứ, kể cả những vật vô tri vô giác, đều có cuộc sống riêng của nó, vô hình, nhưng có thật. Và do đó, bàn tay nghệ sĩ của bà không bằng lòng với việc thể hiện vẻ đẹp bên ngoài của thiên nhiên. Đôi mắt yêu thương của bà dõi theo cuộc sống bên trong của thiên nhiên, còn đôi tai thính nhạy của bà thì nắm bắt ngôn ngữ thầm lặng của nó.

Đó là lý do tại sao bà thành công khi mô tả những bí mật đẹp đẽ của những câu chuyện cổ tích, truyền thuyết dân gian sống động và những câu chuyện về các vị thánh. Những bí mật đó không thể cảm nhận bằng ngôn từ trau chuốt mà phải bằng những ngôn từ giản dị, bởi vì, như lời bà đã nói với một nhà thơ: nó có đôi mắt để nhìn thấy những bí mật của Chúa”.

Trong diễn từ đáp tạ ngày 10/12/1909, Selma Lagerlof đã nhắc đến sự ảnh hưởng của người cha với lời nhắc nhở: “Hãy nghĩ về những người lang thang nghèo khổ, vô gia cư, những người đã từng rong ruổi khắp vùng Varmland. Chính họ dạy con rằng có thơ trong đá cứng, rừng rậm. Con đã vay mượn ở họ kho tàng thần thoại. Và con không chỉ mắc nợ con người, con mắc nợ với cả thiên nhiên. Động vật đi trên mặt đất, chim muông bay trên trời, cây cối và hoa lá, tất cả đều đã kể cho con nghe những bí mật của chúng”.

Với cuốn sách “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”, dịch giả Bùi Xuân thổ lộ: “Những phụ nữ cầm bút đã đoạt giải Nobel Văn học đều là những tấm gương sáng, cống hiến cả cuộc đời mình cho văn học. Họ yêu văn chương từ thời thơ ấu, đến với văn chương từ rất sớm và đều là các nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp.

Có người đã phải trải qua những chặng đường đời một cách khổ đau, dâu bể, nghiệt ngã, nhưng họ đầy bản lĩnh, dám đi vào những vấn đề bức xúc của thời đại như chiến tranh, áp bức, phân biệt chủng tộc, bình đẳng giới, tính dục, nữ quyền, cùng những vấn đề muôn thuở của con người như khát vọng hòa bình, tự do, hạnh phúc, yêu thương, cô đơn, thân phận”.

Nhìn từ giá trị giải Nobel văn học, bỗng thấy rằng sự tinh tế lẫn sự can trường của phụ nữ cầm bút đã giúp thế giới phong phú thêm và rộng lớn thêm. Ví dụ, nhà thơ nữ Nelly Sachs được biểu dương về sự thể hiện trung thực số phận bi thảm của người Do Thái trong chiến tranh phát xít.

Nhà văn nữ Pearl Buck được tuyên dương là người đã bắc nhịp cầu sống động nối văn hóa Trung Hoa với văn hóa phương Tây. Nhà văn nữ Nadine Gordimer được biểu dương về những tác phẩm đầy dũng khí chống lại nạn phân biệt chủng tộc Apartheid.

Nhà văn nữ Doris Lessing được biểu dương là người bảo vệ mạnh mẽ nữ quyền trong những Ok9 cab trò chơi casino phổ biến mà phụ nữ bị hành hạ và đối xử bất bình đẳng. Hoặc nhà văn nữ Svetlana Alexievich được biểu dương là đã dám vạch trần những bi kịch không lối thoát của con người trong những tai họa lớn nhất của thế kỷ 20, đó là chiến tranh, nạn diệt chủng và thảm họa nguyên tử ở Chernobyl.

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học -1
Cuốn sách tôn vinh 18 nhà văn nữ đoạt giải Nobel văn học.

Trong cuốn sách “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết” của dịch giả Bùi Xuân, độc giả cũng được khám phá những quan niệm sáng tác độc đáo của những phụ nữ cầm bút.

Nhà thơ nữ Ba Lan Wislawa Szymborska đoạt giải Nobel văn học năm 1996, chia sẻ: “Các nhà thơ, nếu là nhà thơ chân chính, cũng phải lặp đi lặp lại câu nói “Tôi không biết”. Mỗi bài thơ đánh dấu một nỗ lực để trả lời câu nói này, nhưng ngay khi, ở vào khoảnh khắc cuối cùng, chạm tay vào trang giấy, nhà thơ bắt đầu do dự và nhận ra rằng câu trả lời cụ thể này hoàn toàn là tạm thời, hoàn toàn không đủ sức để khởi động. Thế là, nhà thơ lại tiếp tục cố gắng, và không sớm thì muộn, những chuỗi kết quả của sự bất mãn với chính mình của nhà thơ sẽ được các nhà lịch sử văn học dùng một chiếc kẹp giấy thật to kẹp lại và gọi là “tác phẩm” của họ”.

Tương tự nhà văn nữ Anh Doris Lessing đoạt giải Nobel văn học năm 2007, khẳng định: “Các nhà văn thường được hỏi “Bạn viết bằng cách nào? Bằng máy tính? Máy đánh chữ điện? Bút lông? Hay là viết tay?”. Nhưng câu hỏi cốt yếu là “Bạn đã tìm thấy không gian, một không gian trống quanh bạn, khi bạn viết hay chưa?” Từ ngữ sẽ tìm đến không gian đó, như một hình thức lắng nghe, chú ý, những từ ngữ mà nhân vật của bạn sẽ nói, những ý tưởng, nguồn cảm hứng. Nếu một nhà văn không thể tìm thấy không gian này, thì những bài thơ và những câu chuyện của họ có thể bị chết yểu. Khi các nhà văn nói chuyện với nhau, điều mà họ nói bao giờ cũng liên quan đến không gian tưởng tượng này, đến một thời gian khác. Bạn tìm ra nó chưa? Bạn đã nắm chắc nó chưa đấy?”.

Tuy Hòa

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.