Hơn ba mươi năm hoạt động văn học liên tục, nhà thơ Tô Hà viết không nhiều, song anh có tiếng là người viết kỹ. Thật khó mà bắt bẻ được anh. Tứ có thể chưa hay, ý có thể chưa sắc, nhưng bỏ thì bỏ cả, chứ đừng tính đến chuyện sửa chữ. Đơn giản chỉ vì Tô Hà là người rất có ý thức tạo dựng toàn bài bắt đầu từ việc tạo dựng nên những câu thơ hay.
Phương thức sáng tạo "phát một" theo kiểu súng trường của anh đã khiến cho mỗi câu thơ là một ý, chúng có đích để đến, bởi vậy mà chúng thường tách bạch, đổ bóng, hắt bóng xuống nhau chứ không mấy khi "bén rễ" sang "đất" của nhau. Điều này thuận lợi cho việc - và cũng lý giải cho việc tại sao tác giả hay tìm cách tháo dỡ bài này, lắp ghép thành bài kia. Chẳng hạn như với bài "Trước cơn mưa mùa hạ": "Mây nổ pháo ngang trời sấm động/ Lá phần phật sáng lá xanh chưa/ Mải theo một dáng xa thăm thẳm/ Quên cả vầng trăng lạc cả mùa". Để trở thành một bài thơ gọn ghẽ, chặt chẽ như thế này, Tô Hà đã ghép câu đầu với ba câu cuối của một bài thơ vốn dĩ có tới 12 câu. Như vậy là anh đã bỏ đi 8 câu, trong đó có những hình ảnh giàu sáng tạo như: "Hoa như lửa bập bùng lối cỏ/ Gió phi vó ngựa nắng tung bờm". Thì ra, để cắt tỉa bài thơ, tác giả nhiều khi cũng như một anh thủ môn, vừa phải áng chừng độ mở rộng của toàn bài, như nhìn bao quát độ rộng của cầu môn, vừa phải xác định hướng bóng sẽ bay để mà "khép góc"…
Tô Hà được bạn đọc biết nhiều kể từ bài thơ "Chuyện không có trong thư" anh viết thời chống Mỹ. Ngoài những ý thơ hay, cách diễn đạt duyên dáng, khơi gợi: "Phút nhẹ nhàng đậu xuống góc phong thư/ Là phút con tem bắt đầu có cánh", bài thơ còn gây ấn tượng mạnh bởi những bất ngờ bật ra từ mấy câu kết: "Cánh tem không dừng lại bao giờ/ Cánh tem sẽ đậu vào tay bạn/ Và chuyện này không có trong thư". Như vậy, tất cả mọi gian lao, hiểm nguy dọc đường mà người bưu tá thời chiến vấp phải đều là những "chuyện không có trong thư". Có thể nói, trước Tô Hà, chưa ai phát hiện ra cái tứ này.
Tô Hà là thế hệ nhà thơ mà khi tham gia cuộc sống kháng chiến, những truyện ngắn Paustovsky, thơ Pushkin, dân ca Nam Tư, thơ Lermontov… ít nhiều còn vương vấn, ám ảnh trong hồn. Đọc những câu sau đây trong bài "Hồi tưởng" của Tô Hà: "Nơi bên kia những rặng mờ xa/ Nơi sương lụa khoác tròn vai núi tím/ Nơi suối trong người yêu tôi hiển hiện/ Nghiêng xuống tim nàng cành cây nhỏ uốn cong/ Từng chiếc thuyền xanh bâng khuâng xuôi dòng", ta thấy âm hưởng của bài thơ cứ ngân nga, tỏa mạch, cảm thấy tâm hồn mình như lạc vào một bến bờ nào đó, một câu chuyện nào của một thời nào, nơi có nàng thiếu nữ với nỗi buồn bâng quơ, mê đắm: "Nàng đang bứt tâm hồn nàng như thế đó/ Kỷ niệm qua đây thắm như bờ cỏ/ Ý yêu đương chưa nói hết bao giờ/ Vượt qua rừng từng cơn gió xa đưa/Gió đến bên tôi mang lời nàng thầm vọng:/ Ơi nỗi nhớ của em xanh thẳm/ Bây giờ anh ở đâu?".
Thơ Tô Hà không nhiều những bài thơ kiểu này. Thơ anh nói chung thường gân guốc, rắn rỏi (vào loại khó ngâm). Rất ít khi anh làm một bài thơ mà mở đầu là 7 chữ, rồi rộng ra đến 8, 9 chữ và liên kết với nhau bằng vần chân ở cuối câu như thế (thơ anh chủ yếu là những bài 5 chữ, 7 chữ, cũng vần chân nhưng theo lối gián cách, tức là câu thứ hai vần với câu thứ tư). Thơ Tô Hà từng có cái cứng, cái sáng của kính của gương thì với những bài như thế này, anh sẽ có thêm cái trong, cái mềm của nước.
Cách dùng chữ của Tô Hà thường rất "động". Nói theo cách của nhà thơ Xuân Diệu, ít khi anh chịu để cho câu thơ "bẹp gí", thiếu sinh sắc. Viết về tiếng chim hót, với anh bao giờ cũng phải đến độ náo nức "Chim vườn ran lối xưa". Ngựa dừng chân phải là "Ngựa sững vó đầu làng". Chim bay thì phải "Cánh chim rẽ lá vù lên hót". Những từ rất "động" ấy (ran, sững, vù) thường được đặt đúng vào chỗ vừa ngắt nhịp khiến câu thơ trở nên mạnh mẽ, có gân cốt. Anh cũng là người khá chú trọng tới cách ngắt nhịp của câu ("Ô hay cánh bướm hồn nhiên cũng/ Trắng muốt bay theo những lượm vàng" - chỉ cần thả một chữ "cũng" vào nhấn nhịp ở cuối câu, người đọc đã thấy sự uyển chuyển nhịp nhàng trong chao động của cánh bướm); và là người có cách cấu trúc câu không đơn điệu: "Mây nổ pháo ngang trời sấm động", "Trâu ngẩn ngơ sừng bắp trổ hoa", "Bầy trẻ reo truồng trên ngấn sóng/ Hoa dại bay vàng bãi tự nhiên". Chỉ tiếc là, nhiều câu thơ cuồn cuộn cơ bắp như vậy có những lúc lại bấu víu vào một cái tứ xộc xệch, khiến cho bài thơ ở vào thế chông chênh, không vững chắc.
Tô Hà là típ nhà thơ không thích thu mình vào để nhấm nháp nỗi buồn riêng tư, hoặc đẩy suy tưởng đến độ "cao siêu", "thần bí". Anh hồn nhiên tiếp nhận vẻ đẹp cuộc sống ở khía cạnh giản dị, chân chất của nó.
Bài thơ "Tôi nằm trên bãi cỏ" được anh viết ra khi còn rất trẻ:
Tôi nằm trên bãi cỏ
Trông lên những chấm ngời xa
Và cứ thế tan ra
Tan raKhông biết bao nhiêu thiên kỷ
Những vì sao
ánh ngời trên cao
Còn tôi
Tôi chẳng là gì cả
Mặc dầu vậy đêm nay…
Thật là những cảm xúc đẹp và hồn nhiên. Mặc cho một nhà thơ nước ngoài nào đó trong một lần đứng ngắm bầu trời mênh mông, đã nghĩ đến cái nhỏ bé, côi cút của kiếp người mà thốt lên rằng: "Vừa rồi ta ngắm trời sao, chứ không phải trời sao ngắm ta" thì chàng trai Tô Hà lúc bấy giờ vẫn cảm thấy vui thú. Anh như muốn nói với trời sao rằng: Dù người đã và sẽ còn tồn tại hàng triệu triệu năm trước và sau khi tôi ra đời, dù người chẳng cần biết gì đến tôi, nhưng tôi biết rằng hiện giờ tôi đang tồn tại trước mắt người đây. Và rất thản nhiên, tôi nằm trông lên những chấm ngời xa, và đếm…
Một con người có cái nhìn cuộc đời hồn nhiên, trong trẻo vậy, cuối cùng cũng không thoát ra được những vây bủa của đời thường. Những bài thơ cuối đời Tô Hà dành để viết về tâm trạng của mình trước những khó khăn của cuộc sống. Anh viết về vợ con, về tình cảm gia đình với những cảnh ngộ không thể không quan tâm, lo lắng. Vợ ốm, anh hoang mang thờ thẫn. Vợ đi công tác xa, anh ẩn ức, buồn thương. Tất cả đã dồn nén thành những câu thơ gây ấn tượng mạnh mẽ: "Em nằm viện mỗi ngày/ Mỗi ngày thêm quẫn dạ/ Việc lúc nhớ lúc quên/ Thời gian thành nhuế nhóa/ Buồn tênh mà ngại khách/ Báo cũ đọc không vào…" (bài "Em nằm viện"); "Angola là đâu?/Mà lên đường em khóc/ Luanda là đâu/ Mà tháng năm dằng dặc/Mà nửa vòng trái đất/ Mà em về chiêm bao… (bài "Em về chiêm bao").
Người ta thấy đằng sau câu chữ là cả một nỗi niềm nặng trĩu ưu tư. Nước mắt của tác giả như chực trào ra ở bài "Em về chiêm bao" lại như khô lại ở cuối bài "Em nằm viện".
Như vậy, hồn thơ Tô Hà đã mở ra với muôn mặt đời thường, với nỗi đời vất vả lo toan nhiều khi tưởng chừng không thể nào còn lạc quan được nữa. Ngay cả đến sáng tác là cái thiêng liêng nhất thì rồi đến một lúc "Tự thức" nào đó, cũng lại phải nghĩ và buồn:
Nếu ngày kia anh chết
Thơ chẳng còn đâu
Chỉ còn cái bóng nơi anh ngồi viết
Nếu ngày kia anh chết
Cái bóng chẳng còn đâu
Chỉ còn con mèo sưởi nắng nơi anh ngồi viết.
Nhân việc Tô Hà nhắc tới cái chết, tôi cũng xin kể lại chuyện này để thấy sự linh ứng lạ lùng qua một bài thơ cuối của anh.
Nhà thơ Tô Hà ra đi vì bệnh suy thận cấp. Có đến 6, 7 tháng trước lúc mất, anh phải chạy thận nhân tạo, mỗi tuần lọc máu tới 2 lần. Điều lạ là trước khi vào cuộc chiến cam go này, trong khi tâm thế còn khá ung dung, anh đã viết bài thơ "Hư ảo", với những lời lẽ như từ thế giới bên kia vọng về:
Thuở ấy anh là mây dưới kia...
Theo trăng vằng vặc rủ em về
Ai hay trước ngõ em đâu mất
Để lại tơi bời anh lối khuyaTừ ấy không đêm cũng chẳng ngày
Anh là giá buốt của sương bay
Là sao đẫm ướt run trên lá
Trăng ngỏ lời suông với gió mayNgõ cũ ai về thăm lối xưa
Anh thành cõi khác của đam mơ
Nghe hồn thu lạc qua hư ảo
Ai khóc tên mình trong nắng trưa.
Lẽ thường, ta bao giờ cũng nói "mây trên kia". Chỉ có người đã về Trời (hoặc giả là đi máy bay) mới nói "mây dưới kia". Hơn thế, "Từ ấy không đêm cũng chẳng ngày/ Anh là giá buốt của sương bay", cũng có nghĩa là người đã sang cõi khác. Thú thật, khi được Tô Hà đọc cho nghe bài thơ, tôi sởn gai ốc, cảm thấy có điều gì đó hơi... gở. Quả nhiên, sau này, đối chiếu với những tình tiết xảy ra hôm anh Tô Hà mất, tôi thấy có những điều ứng nghiệm lạ (từ việc vợ anh ở nước ngoài về; từ việc anh ra đi đúng vào buổi trưa, trong nắng thu vàng…)…
Nhà thơ Tô Hà ra đi đến nay đã chẵn hai mươi năm. Những bài thơ của anh còn đó. Mọi lời khen đều trở nên vô nghĩa, thậm chí, có thể hóa vô duyên. Bản thân tôi trước đây đã từng viết bài về một số tập thơ của anh. Bây giờ trở lại với thơ Tô Hà cũng chỉ dám coi như là để bổ sung thêm một số suy nghĩ mới. Và nếu có thể, mượn mấy câu thơ anh viết về Lâu đài Đavít: "Lâu đài cổ mang tên Đavít/ Đẹp và buồn tôi đã đến thăm" để nhắn với anh: Tôi trở lại với thơ anh, xúc động như anh đứng trước tòa lâu đài cổ ấy ngày nào. Anh Tô Hà ơi, chỉ muốn nói với anh rằng: Thơ anh đẹp, và buồn. Và tôi đã đến thăm, tôi lại về thăm rồi đó…