Đậm đà món cá kho của người Việt

Tôi thích ăn cá kho lắm. Trong các món mặn của người Việt, nhất là vào thời bao cấp, có lẽ cá kho là món phổ biến và được nhiều người ưa thích bậc nhất. Cái dĩ vãng trầm lặng về một thời gian khó cứ ấn tượng mãi đến mức bây giờ được ăn miếng cá kho lại nhớ cả một bầu trời thơ ấu.
  • Căn hộ Studio: giấc mơ an cư của những người Việt trẻ
  • Cơm tẻ của người Việt

Vì sao người Việt thích ăn cá kho, nhất là người miền Bắc? Thứ nhất cá kho là món mặn, có thể ăn dè quanh năm được. Một nồi cá kho có khi dùng được dăm ba hôm, thậm chí cả tuần vẫn không hỏng nếu thời thiết mát mẻ. Cá kho lại hợp với cơm, ăn tốn lắm. Một miếng cá mằn mặn có khi đưa được đôi ba lưng cơm mà vẫn thấy thòm thèm muốn đơm bát nữa. Thế nên dân gian mới có câu: "Có cá đổ vạ cho cơm!". Cá ở đây không phải bất cứ món nào mà chính xác là cá kho, nguyên nhân gây tốn cơm!

Ngày xưa cá là thứ không quá hiếm, nếu so với thịt. Ở vùng biển thì dĩ nhiên cá tôm rất nhiều, con nhà chài lưới có khi ăn cá nhiều hơn ăn cơm, còn ở đồng bằng, miền núi, con cá là thứ mỗi gia đình có thể tự xoay xở được. Làm chiếc giậm hay cái nơm, người cha đi ra ra mương nước, bờ ruộng loay hoay một lúc ít nhất cũng kiếm được vài con giếc, mại cờ, rô ron, rô đồng, ít tép… đủ làm một nồi kho tạp pí lù. Hoặc thả một chiếc lưới nhỏ ngang suối, ven sông, đặt một cái vó nhỏ rắc tí thính ở hồ nước có khi kiếm được những con cá to hơn. 

Không tự kiếm được cá thì có thể mua ở chợ, giá cũng không quá đắt đỏ với những mớ cá nhỏ hoặc hổ lốn. Nhưng để có nồi kho ngon thì đừng là loại cá nhỏ quá vì kho phải đun kĩ, cá bị nhừ nát, không còn hình dạng trông đã thiếu hấp dẫn. Cũng không nhất thiết phải là thứ cá chắc thịt, ít xương như cá chuối, cá trê, cá bò mà những loài như trắm, chép, mè, trôi, rô phi đều kho được, miễn là đủ gia giảm và kĩ công một chút.

Cá có vị tanh nên nồi kho quan trọng hàng đầu là phải đủ gia vị. Nào là kẹo đắng dùng chế bằng cách nấu đường cho cháy lên rồi đổ nước phủ màu vàng sậm cho cá. Nào là bã trà, hạt tiêu, ớt, nước dưa chua để khử tanh và tất nhiên phải có muối. Cá kho cần mặn hơn các món thông thường như xào, nấu để bảo quản được lâu hơn nên muối bỏ nặng tay một chút.

Người Việt có món ăn đặc sản cá kho tộ.
Người Việt có món ăn đặc sản cá kho tộ.

Cá tuy là thứ không xa xỉ như thịt ở những thời điểm đói kém nhưng không phải lúc nào cũng dễ dàng có được nên các bà mẹ cũng phải độn nhiều thứ vào nồi kho của mình. Những thứ độn thường là dưa cải muối, chuối xanh thái lát, lá sắn, măng tươi, củ cải… Đôi khi nồi kho chỉ có vài ba khúc cá giữ vị chủ đạo chứ phần nhiều là những thứ rau quả thêm vào.

 Nhưng ăn một bụm lá sắn, lát chuối xanh hoặc cọng dưa cải vẫn thấy ngon miệng vì vị ngọt, vị đằm của cá đã ngấm vào đó. Cá không còn mùi tanh, còn rau quả đậm đà vì được tẩm ướp và hút lấy những thứ thơm ngon nhất từ vị chủ. Có một ít thịt ba chỉ hoặc vài miếng tóp mỡ bỏ vào thì nồi cá kho trở thành thượng hạng. Cá và các thành phần khác của nồi kho đều béo ngọt, quyện sánh thơm lừng nhưng người mẹ, người cha thường chọn những miếng rau quả, xương xẩu, còn chỗ mềm nhất, ngọt nhất dành cho các con.

Vì là món ăn dè để lâu nên nồi cá kho được Ok9 cool link đăng nhập lắm. Nó là món chủ lực của bữa cơm gia đình. Để tiết kiệm và dùng lâu thì cá phải kho thật kĩ, thật nhừ. Cá kho nhừ thì ăn được cả xương, nhai cái xương cá mềm xàu, bùi bùi. Nối cá kho đạt tiêu chuẩn không bỏ đi bất cứ thứ gì. Đầu cá, xương cá thì bố mẹ nhận phần, chỗ có xương dăm trong lườn cá cũng không sợ trẻ con bị hóc vì hàm răng nhấn vào một cái xương đã vụn ra quyện lẫn với thịt cá rồi. Bộ lòng những con cá lớn cũng là thứ rất ngon vì chỗ ấy dính nhiều mỡ, là thành phần cung cấp chất béo cho nồi kho nếu như thiếu thốn một ít mỡ lợn bỏ vào nồi cho thêm ngậy.

Đến tận cuối thời bao cấp ở miền Bắc, nhất là ở Hà Nội, nồi cá kho vẫn là món ăn quan trọng của ngàOk986.vip bảo mật SSLt Nguyên đán. Cá kho ăn với cơm trắng, bánh chưng. Có nồi cá kho rồi coi như đã yên tâm về nguồn dự trữ thức ăn trong mấy ngày vui chơi khi tủ lạnh còn chưa có. Cá kho nhừ thơm ngon, ăn lại không ngán như thịt. Cả năm trời ăn cơm với cá kho, đến Tết vẫn là món ấy mà không thấy nhàm. Cá kho quen thuộc và bình dị như cơm tẻ vậy. Người ta ăn được cơm tẻ quanh năm thì cá kho cũng thế, ít nhất nó đúng với thế hệ sinh từ năm 1980 trở về trước.

Mẹ tôi, một người đàn bà miền Bắc, quê gốc vùng Kinh Môn, Hải Dương có cách chế biến cá kho khá lạ. Mẹ kho một nồi cá thật to vào những ngày hanh hao nhiều nắng. Rồi với nồi cá kho ấy, mẹ dỡ ra, rải những miếng cá vàng sậm trên cái mẹt, cái nia mang ra chỗ nhiều nắng trên mái nhà hoặc giàn mướp, giàn bí để phơi. Cá kho chỉ cần độ bốn năm hôm phơi mình dưới nắng gắt là khô đanh lại. Món cá kho khô ấy được cho vào những hộp nhựa hoặc lọ thuỷ tinh đậy kín trữ ăn dần. Cá kho khô rất quánh, nó đậm vị của gia giảm, lại có mùi của nắng nên rất thơm. Món cá ấy có thể dầm trong bát nước mắm nếu kho lạt hoặc ăn luôn nếu đã đủ mặn. 

Món cá kho khô ấy đi suốt thời tuổi thơ tôi và đến tận khi trưởng thành xa nhà, mỗi khi nhớ đến món ăn quê nhà lại tứa nước miếng vì thèm nhớ. Nó không chỉ là mùi vị của một món ăn, nó là quá khứ, dĩ vãng, kỉ niệm của một thời gian khó và vất vả. Vị cá kho đã ngấm vào kí ức những người con đất Việt để nhắc nhớ rằng không bao giờ quên được cha mẹ, quê hương đã sinh thành, nuôi dưỡng mình lớn lên.

Rồi một thời gian người ta hờ hững với món cá kho vì thịt thà ê hề quá. Vẫn là cá nhưng món rán, món nướng, món riêu được ưa chuộng hơn vì bây giờ ăn dè không còn là triết lí thời thượng nữa. "Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè, hà tiện", câu cách ngôn ấy đã có những sự sai lệch bởi thời đại đã thay đổi nhưng vẫn còn những ý nghĩa nhất định. Ăn dè à, thì chính món cá kho là trụ cột trong sự ăn dè, hà tiện ấy. Bây giờ người ta khá giả rồi, ăn sao cho ngon, cho thoả, rất ít nhà dùng một món ăn trong vài ngày bởi thế món cá kho cũng thưa vắng đi.

Nhưng rồi người ta lại nhận thấy rằng ăn nhiều thịt quá thì dễ bị béo phì, máu chứa nhiều cholesterol có hại. Cá rán cũng không thật lợi cho sức khoẻ vì nhiều dầu mỡ. Người ta lại thích cá kho hay nói đúng hơn, quay trở về với cá kho. Vấn đề nảy sinh thời hiện tại là ai ai cũng ít thời gian, kho một nồi cá thì mất nhiều công phu quá mà nếu kho rối, kho ẩu thì ăn không ngon, nhạt nhẽo. Thế là các chợ, các cửa hàng ở những thành phố đông đúc và thậm chí vùng thôn quê xuất hiện những người kho cá sẵn để bán cho những bà nội trợ bận rộn. Một nồi cá kho lớn, chăm chút gia vị, bếp đốt và thời gian sẽ ngon và rẻ hơn nếu tự bày vẽ ra mà không đủ các điều kiện cần thiết.

Và ngạc nhiên nữa, làng Vũ Đại, quê hương của nhà văn Nam Cao, người đã OK9 đã banh ra một series các nhân vật đã trở thành bất tử như Chí Phèo, Thị Nở, Bá Kiến… lại nổi tiếng với món cá kho danh bất hư truyền. Làng Vũ Đại nhờ có Nam Cao mà được biết đến trên bản đồ văn học, nay lại nức tiếng với món cá kho cao cấp. 

Người ta đã làm ra những nồi kho rất ngon bằng giống cá chắc thịt, ít xương: cá trắm đen. Kho và ủ nấu chuyên nghiệp, một niêu cá kho trở thành đặc sản có khi mất cả mười hai tiếng đồng hồ đun ủ. Kĩ càng từ khâu chọn nguyên liệu, tẩm ướp, kho, bảo quản, làm ra niêu cá ngon cũng lắm gian khó nhất là khâu nấu trên bếp lửa thời gian dài. Phải trông sao cho nồi kho không cạn, châm thêm nước vừa đủ để gia vị ngấm nghía lại không để sôi trào. 

Món cá kho danh tiếng đã vượt qua ranh giới địa lý làng Vũ Đại, vượt qua cả tỉnh Hà Nam xuất đi khắp cả nước. Người Hà Nội, người Hải Phòng, thậm chí người Sài Gòn cũng đặt mua niêu cá kho truyền thống ấy với giá không hề rẻ. Nó ngang giá với những Ok 9 được vận hành bởi Liên Minh OKVIVP cao cấp nhập từ nước ngoài và nếu không đặt sớm thì Tết cũng không kịp món ngon.

Tôi tin rằng người Việt không bao giờ bỏ được món cá kho hay quên lãng được nó. Bởi người Việt không ai bỏ cơm tẻ vì không ăn cơm tẻ sao gọi là người Việt được. Món cá kho ở một khía cạnh nào đó cũng có địa vị quan trọng gần như thế. Miếng cá đã là bầu bạn, là vị mặn của cả một thời thương nhớ không xa.

Còn bạn, đã bao lâu rồi bạn chưa ăn cá kho?

Uông Triều

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.