Cuộc hẹn của tỉnh thức

Khép lại "Cuộc hẹn kỳ vĩ ở xứ sở không tôi" (thơ Hoàng Vũ Thuật qua mỹ học thiền-tịnh) - chuyên luận của Nguyễn Thành Hưởng, NXB Hội Nhà văn, 2026 - người đọc có cảm giác như vừa bước qua một tịnh viên nhiều lớp.

  • Hoàng Vũ Thuật: “Họa sĩ” vẽ thơ
  • Hoàng Vũ Thuật -Ấm tình thơ phương Nam

1. Khép lại "Cuộc hẹn kỳ vĩ ở xứ sở không tôi" (thơ Hoàng Vũ Thuật qua mỹ học thiền-tịnh) - chuyên luận của Nguyễn Thành Hưởng, NXB Hội Nhà văn, 2026 - người đọc có cảm giác như vừa bước qua một tịnh viên nhiều lớp. Không phải sự choáng ngợp bề mặt, mà là một cảm giác thanh sạch: có mùi cỏ non, hơi sương muộn, tiếng gió lùa qua những phiến lá mỏng; và ở đâu đó, dưới tầng im lặng, có những sợi ánh sáng tâm linh đang chảy về phía mình.

Cuộc hẹn của tỉnh thức -0
Bìa cuốn tiểu luận của tác giả Nguyễn Thành Hưởng.

Không cao đàm khoát luận, không “tỏ ra”, cuốn sách tạo dư ba bằng chính sự điềm nhiên, hiền minh, thanh tĩnh của người viết - người đã dành nhiều năm sống trong chữ, thở cùng chữ, nghe được vọng âm của chữ. Và, như mọi hành trình tâm linh, chuyên luận không chỉ làm ta sáng thêm về thơ Hoàng Vũ Thuật, mà còn thay đổi cách ta đối diện với ngôn từ. Ta đứng chậm lại. Ta nhìn sâu hơn. Ta để mình được đầy tràn hơn dưới ánh sáng tĩnh lặng mà Nguyễn Thành Hưởng đã tinh tế phơi mở.

2. Có hai kiểu phê bình: phê bình chinh phục, coi văn bản là chiến trường, lấy lý thuyết làm khí giới; và phê bình thấu cảm, lấy sự lắng nghe làm điểm tựa. Nguyễn Thành Hưởng thuộc kiểu thứ hai. Sự lắng nghe này không thụ động, mà là một trạng thái tinh thần tỉnh thức: nhận biết được những động cựa rất khẽ khàng trong văn bản, những thay đổi nhiệt độ tinh tế trong ngôn từ, những khoảng trắng chứa nhiều hơn cả nghĩa.

Trong thơ Hoàng Vũ Thuật, nơi mà một chữ có thể đứng đơn độc trong một dòng, nơi mà một dấu phẩy có thể tạo ra một vùng khí mới, nơi mà một vệt sáng có thể mở ra cả một chiều tâm linh, thì người đọc biết lắng nghe là người duy nhất có thể thông tỏ được độ sâu thứ hai của chữ.

Cuộc hẹn của tỉnh thức -1
Nhà thơ Hoàng Vũ Thuật.

Phê bình trong cuốn sách này, do đó, không “đè” lên văn bản. Nó nâng nhẹ văn bản. Nó cho phép văn bản được thở theo nhịp của chính nó. Chính vì vậy, khi theo dõi từng diễn dịch, từng kiến giải của tác giả cuốn sách, ta có cảm giác như đang đi trong sương: thấy mờ, xa, nhưng lại rất rõ, gần. Đó là một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 khó. Và, Nguyễn Thành Hưởng đã thực hiện điều đó bằng một trực giác thẩm mỹ của một nhà Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 biết gìn giữ sự sáng suốt và tự chủ của mình.

3. Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ của những chuyển động tinh sạch và mong manh, như sương. Ở ông, không có những tuyên ngôn ồn ào, những đúc kết lớn lao, những cảm xúc cực tả. Nhưng, chính sự tiết chế, tự nhiên như hơi thở ấy làm cho thơ ông mang một thứ năng lượng của chiều sâu. Giống như một mặt nước trong: càng nhìn kĩ, càng thấy nhiều, và điều ta thấy không chỉ là cảnh dưới nước, mà còn là bóng mình.

Chuyên luận của Nguyễn Thành Hưởng đưa ta đến một điểm nhìn mới: Hoàng Vũ Thuật không chỉ là một tiếng nói riêng biệt của thơ Việt hiện đại, mà còn là một thi sĩ ở ranh giới giữa hữu hình và vô hình. Thơ ông là nơi những sự vật nhỏ nhất - chiếc bóng, vệt khói, tiếng chim, giọt mưa - đều mang sức nặng triết học của một tồn tại đã qua quá trình cảm niệm, chiêm nghiệm.

Trong cách lý giải ấy, thi sĩ Hoàng Vũ Thuật hiện ra không phải như một người cố gắng “đại tự sự”, mà như một người để điều lớn (nếu có) tự nói qua mình. Nguyễn Thành Hưởng đã thính nhạy nghe ra, như một khách tri âm đặc biệt.

4. Một trong những khoảnh khắc đẹp nhất của chuyên luận là khi nó trừu xuất được cách cái tôi chủ thể tự tan rã để thành vô ngã trong thơ Hoàng Vũ Thuật. Sự tan rã này không phải là khủng hoảng. Nó là sự rụng của chín, sự tan của sương, sự mở của nụ, sự biến hóa của ánh sáng. Có những bài thơ bắt đầu bằng cái tôi rất rõ: cảm, nhớ, mong, buồn... Nhưng, chỉ một lúc sau, cái tôi ấy mờ dần, loãng dần, rồi mở ra một vùng không gian khác, nơi mà chủ thể không còn trung tâm, nơi mà thế giới lên tiếng bằng chính luật vận hành của nó.

Cuộc hẹn của tỉnh thức -2
Tiến sĩ Nguyễn Thành Hưởng.

Nguyễn Thành Hưởng nhận ra điều đó không phải bằng triết lý chung chung có sẵn, hay bằng lý thuyết thời thượng ráo hoảnh, mà bằng cách đọc thi pháp, tức đọc sâu vào văn bản, Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 cùng văn bản:

- Cách tách chữ thành từng dòng,

- Cách để hình ảnh vượt khỏi người nhìn,

- Cách làm cho “tôi” trở thành bóng của chính mình,

- Cách để giọng thơ dẫn ta từ chủ thể sang vô ngã mà không hề đứt đoạn.

Đó là sự “tan” của chủ thể thi sĩ một khi đã đi tận cùng cái tôi đầy tràn. Và, đến lượt, sự “tan” ấy đã chạm gặp cái nhìn của một nhà phê bình tuy có phần “ngoại đạo” văn chương nhưng lại luôn sống cùng chữ và thở cùng thiền-tịnh.

5. Chuyên luận không “gán” gượng thiền vào thơ Hoàng Vũ Thuật, mà chỉ khơi gợi: thiền như tinh chất của câu thơ, như cách câu thơ tự tạo ra trạng thái của nó.

Thiền ở đây không phải là giáo lý. Nó là:

- Cách ngắt nhịp như hơi thở,

- Cách sử dụng im lặng như một lớp nghĩa,

- Cách để sự rỗng (khoảng trắng) trở thành một phương thức biểu đạt,

- Cách để chữ tự tỏa sáng mà không cần uốn đẽo.

Với những thông diễn này, Nguyễn Thành Hưởng cho thấy bản tính thiền-tịnh của thơ. Một khi cho thấy được điều đó, thì không còn là tường giải nữa, mà là thở cùng thơ. Thiền-tịnh ở đây là phương thức tồn tại của ngôn từ thơ. Và, nhờ sự thẩm thấu của tác giả chuyên luận, độc giả cũng bước vào vùng mỹ học của thiền-tịnh ấy lúc nào không hay biết.

6. Trong nhiều trang viết đẹp của chuyên luận, ánh sáng hiện lên như một chủ thể. Nó không chỉ soi cảnh. Nó biết cất lời. Nó biết chuyển hóa. Nó biết dụ dẫn người đọc từ nơi này sang nơi khác. Nguyễn Thành Hưởng chỉ ra ánh sáng trong thơ Hoàng Vũ Thuật không phải là ánh sáng vật lý, mà là ánh sáng tinh thần: một phần của nhận thức, một phần của sự bung mở nội tâm. Những câu thơ để ánh sáng “chảy tràn ly”, “đổ lên vai”, “nâng dậy đời tôi” không còn là mô tả, mà đã thành những hình thái của sát na chứng ngộ. Nhờ phân tích ánh sáng như một bản thể thứ hai của Hoàng Vũ Thuật, cuốn sách nói rằng thi sĩ không viết để làm đẹp thế giới, mà để mở thế giới, để đặt người đọc vào vùng sáng của một tri giác mới, dịu dàng hơn, thẳm sâu hơn.

7. Hoàng Vũ Thuật buồn theo cách riêng: buồn nhưng không đóng khép, không nặng trĩu. Chỉ như một lọn mây không chịu mắc cạn, cứ thong dong vờn qua đỉnh núi. Nguyễn Thành Hưởng nhìn ra điều ấy, và gói nén bằng một giọng tỉnh táo: nỗi buồn trong thơ Hoàng Vũ Thuật là nỗi buồn tất nhiên tất yếu của con người, đặc biệt là “loài thi sĩ”. Không thể triệt tiêu nỗi buồn, nên chỉ còn cách khả dĩ là sống chung với nó, và chiếu rọi nó bằng ánh sáng của minh triết.

Thơ Hoàng Vũ Thuật có những câu chạm đến sự trống rỗng, sự vô nghĩa của OK9giaitri đăng nhập. Nhưng, thay vì gieo vào người đọc thứ năng lượng tiêu cực, những câu thơ ấy lại có khả năng tiếp truyền cho người đọc cảm hứng sống, mang lại cho họ cảm giác thanh thản bình yên. Như vậy, nỗi buồn là điều kiện của tỉnh thức, cũng như phiền não là duyên của bồ đề. Và, chuyên luận đã tường minh điều đó một cách tự nhiên, thuyết phục.

8. Cuốn sách của Nguyễn Thành Hưởng đề xuất, kiến tạo một phương cách đọc: đọc là đối thoại không ồn ào, để nghe được cả vọng âm từng con chữ; người đọc là căn nhà oa trữ, trong trạng thái mọi cánh cửa mở toang. Chỉ có mở lòng mở trí thì mới có được những cuộc gặp gỡ diệu kì.

Ta đọc thơ, nhưng đồng thời đọc chính mình. Ta đọc trong cõi tĩnh, để nghe được cả những khoảng trắng vô ngôn, để đi xa hơn chính văn bản.

Trong trạng thái ấy, thơ Hoàng Vũ Thuật trở thành người dẫn đường. Còn người viết chuyên luận trở thành chiếc đèn con vặn nhỏ bấc đặt sau vai ta, đủ sáng để ta không lạc, nhưng đủ nhẹ để ta vẫn đi bằng lòng trí mình.

9. Cuốn sách khép lại, nhưng mở ra trong ta một vùng sáng mỏng, vùng mà nhịp sống hằng ngày dễ làm ta bỏ quên. Ánh sáng ấy đến từ tài thơ và đến từ tâm phê bình. Nguyễn Thành Hưởng không chỉ viết về mĩ học thiền-tịnh, mà còn thực hành chính mỹ học ấy trong phê bình. Ông đặt mình vào trạng thái tỉnh thức để đọc thơ, từ đó trình hiện một phong cách học thuật độc đáo: thiền học của phê bình. Đó là lối đọc lấy tĩnh làm trung tâm, lấy lắng nghe làm phương pháp, nơi mà chủ thể phê bình làm mờ mình đi để đối tượng tự hiển lộ bản thể.

"Cuộc hẹn kỳ vĩ ở xứ sở không tôi", rốt cùng, chính là cuộc hẹn mà mỗi chúng ta phải tự đến: cuộc hẹn với tỉnh thức, với phần tinh khiết và chân thật nhất trong chính mình.

Hoàng Đăng Khoa

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.