Con quạ bay trong bầu trời văn hóa

Tại sao kết truyện “Tấm Cám” là tiếng kêu của con quạ mà không phải là con khác? Tại sao trong rất nhiều thành ngữ, tục ngữ về chim chóc thì con quạ xuất hiện với tần số cao và thường là biểu hiện cho cái xấu, cái tiêu cực, cái cần phải tránh... Có thể kể ra, “Quạ nào mà chẳng đen đầu” chỉ những kẻ ác thì đều giống nhau, rất khó thay đổi bản chất.

  • “Truyện Kiều” nhìn từ những giấc mơ

Chê trách kẻ lẳng lơ thì: “Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con”. Nhận xét kẻ thiếu đứng đắn thì “Láo liên như quạ”. Chê bà nào đó hay “to mồm” thì “Quang quác như quạ”. Rồi “Đen như quạ”, “Xấu như quạ”... Lại có câu “Quạ già hót tiếng hoàng anh” gần gũi với câu “Cưa sừng làm nghé”. Hay “Quạ mượn lông công” để chỉ những kẻ mượn cái son phấn đẹp đẽ của người khác che đậy cái xấu xí của mình. Câu chửi chanh chua, cay nghiệt nhất dành cho đối tượng là những loại lăng loàn thì: “Đồ quạ mổ”!

Thành ngữ “Gửi trứng cho ác” có hẳn một câu chuyện đi kèm minh họa: Chim ác là đang ấp ổ trứng bèn gửi cho ác (một tên gọi khác về quạ, trong câu: “Ác tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa) đi kiếm ăn. Được dịp may, quạ ta ăn hết trứng chỉ để lại vỏ. Khi về ác là chỉ còn biết khóc trong tiếng kêu thảm thiết: “Sao nó ác thế, ác ác là!!!”. Từ đó tên chim là “ác là”.

image001.jpg -0
Con quạ trong văn hóa Triều Tiên!

Như vậy trong tâm thức Việt, con quạ biểu tượng cho sự xấu xí, tham lam, độc ác. Người ta ký gửi mọi ác cảm này vào chuyện cổ tích “Công và quạ”. Sau khi quạ trang điểm xong cho công, đến lượt công trang điểm cho quạ thì có bầy chim đến rủ đi ăn. Háu đói, quạ bảo công cầm cả đĩa mực mà đổ vào thân mình cho nhanh. Thế là từ đó quạ ta bị “gông” vào cái “mã” vừa đen đúa về ngoại hình vừa xấu xa về tính cách.

Có thể tạm lý giải điều ấy thế này: Một là, sống ở xứ sở nhiệt đới chan hòa nắng gió, lại là vùng văn minh sông nước nên hình thành ở người Việt tâm thức ưa sự phóng khoáng, rộng rãi, tinh khôi. Họ ưa gam màu trắng sáng của nắng và nước. Đối ngược lại là gam màu tối được coi là màu của tang tóc, đau thương, kém may mắn (số đen)... Thế nên hình tượng con cò trắng mang tính thẩm mỹ cao hơn hẳn con quạ đen!

Hai là, vì làm nghề nông ắt phải chăn nuôi gia cầm, mà quạ là kẻ thù của họ (hay ăn cắp trứng, quắp gà con. Ca dao: “Một con diều tha/ Một con quạ bắt...”) nên quạ bị ghét là điều tất nhiên. Vậy nên tiếng quạ kêu cuối truyện “Tấm Cám” là đích đáng nhất: “Ngon gì mà ngon! Mẹ ăn thịt con! Có còn xin miếng!”. Thật đáng đời cả mẹ con nhà Cám ác độc phải chịu nhận sự trừng phạt xứng đáng!

Nếu cuộc sống sản sinh biểu tượng thì Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 là nơi nuôi dưỡng biểu tượng. Một cách cắt nghĩa biểu tượng là tìm về cội nguồn cuộc sống, ở phong tục, tập quán, lối sống, tâm lý...   

Con quạ ở đâu cũng có. Ở thời nguyên thủy quạ bay lượn nhiều hơn trong bầu trời văn hóa mọi quốc gia. Trong thần thoại Hy Lạp, quạ là sứ giả của thần Âm nhạc. Trong huyền thoại người Maya cổ, quạ là sứ giả của thần linh, không chỉ mang tính tiên báo mà còn xua đuổi vận xấu, báo hiệu điềm lành. Theo sách “Sáng thế”, sau nạn Đại hồng thủy, Thánh Noah sai một con quạ ra ngoài thuyền để xem nước cạn hay chưa. Trong thần thoại Bắc Âu, quạ là thân tín của Odin - vị thần đứng đầu trong thế giới thần thoại. Trong văn hóa Canada cổ xưa quạ rất được yêu quí như một tín ngưỡng vật tổ...

Trong một số sử thi cổ xưa phương Tây, quạ thường bị coi là sứ giả của bóng đêm, của tối tăm địa ngục, của tai ương bất ngờ. Quạ là loài vật báo trước cái chết của các vị anh hùng đến mẹ hoặc vợ của họ. Thời hiện đại, phương Tây vẫn quan niệm quạ là biểu hiện của điềm gở. Trái hẳn với “bồ câu” biểu tượng của hòa bình; quạ đi liền với những ý tưởng về cái ác, cái đáng sợ. Thiên nga biểu trưng cho đẹp đẽ, thanh khiết, vương giả thì quạ là ngược lại. Nếu trong giấc mơ của ai đó có quạ thì đó là điềm báo chẳng lành.

Người Pháp cho rằng quạ là linh hồn của các linh mục chuyên làm điều xấu. Người Đức coi con quạ là hiện thân của những linh hồn bị nguyền rủa. Với người Thụy Điển, tiếng quạ kêu trong đêm báo hiệu linh hồn của người chết không được chăm sóc đầy đủ. Đến thế kỷ XIX trong văn chương phương Tây quạ vẫn được coi là điềm xấu. Bậc thầy của trường phái thơ tượng trưng là Edgar Allan Poe (1809-1849) trong bài thơ “Con quạ” bằng hình thức tương phản đã OK9 đã banh các lớp thế giới đối lập nhau: địa ngục/thiên đường; thiên sứ/quỷ sứ; may mắn/bất hạnh...

image003.jpg -0
Con quạ trong văn hóa Ấn Độ!

Trong văn hóa phương Đông hình tượng này đa nghĩa và phúc tạp hơn. Tâm linh Ấn Độ coi quạ là “sứ giả của Thần Chết”. Với người Lào, quạ uống nước nơi nào, nước nơi ấy thành bẩn nên tuyệt đối không được lấy để hành lễ...Văn hóa Trung Hoa nguyên thủy coi quạ là “con chim của mặt trời” đi cùng với các tính ngữ tôn vinh: “kim ô”, “khẩu ô”, “dương ô”, “tam túc ô” tượng trưng cho thần mặt trời. Đó là con quạ ba chân, từ đời Hán được khắc tạc vào giữa hình ảnh vầng thái dương có trên những pho tượng đá, ở đình, cung đình... bởi nó “truyền sinh khí cho mặt trời”. Ba chân quạ tượng trưng cho ba thời điểm của mặt trời: sáng - mọc; trưa - cao nhất; chiều - lặn… Thế là biểu tượng được nâng cao tầm ý nghĩa, trong văn hóa Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá được coi như một dấu hiệu thần thánh tái lập, duy trì trật tự Ok9 cab trò chơi casino phổ biến. Trong văn hóa dân gian được coi là biểu tượng của sự hiếu thảo con cái với cha mẹ. Trong “Tây du ký”, con quạ được “thiêng hóa” trong câu chuyện Bồ tát Ô Sào thiền sư tu trên ổ quạ truyền tâm kinh cho Đường Tăng có thêm bản lĩnh vượt khổ nạn đến Tây phương thỉnh kinh.

Hình tượng “tam túc ô” bay ngang sang vùng trời văn hóa Nhật Bản, Triều Tiên. Chịu sự quy chiếu của tâm thức văn hóa bản địa mà huyền thoại mang màu sắc khác. Người Nhật Bản biến thành quạ ba chân Yatagarasu để làm sứ giả của thần linh mang điềm lành đến cho con người. Thần thoại Triều Tiên gọi quạ ba chân là Samjok-o, biểu tượng của mặt trời dẫn lối và đem ánh sáng niềm vui cho nhân gian, đồng thời cũng là biểu tượng của quyền năng.

Con quạ bay vào không gian thơ Đường thì bị khúc xạ bởi nhiều cái nhìn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đa dạng, tinh tế. Trong thơ Trương Kế, ở bài “Phong Kiều dạ bạc” quạ là một thi pháp hình ảnh thật gợi: “Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên” (Trăng tà, tiếng quạ, sương đầy trời). Tiếng quạ kêu đặt giữa câu thơ như để đẩy không gian thêm bao la, xa vắng, buồn hơn. Trong thơ Lý Bạch (bài “Ô dạ đề”) tiếng quạ ở giữa hai khoảng hữu hạn và vô hạn của không gian: “Mây vàng chiếc quạ bên thành/ Nó bay tìm ngủ trên cành nó kêu). Trong thơ Đỗ Phủ (bài “Dã vọng”) thì gợi niềm thương cảm trong nỗi sầu thê lương: “Muộn về chim hạc bay xa/ Từng đàn chim quạ đậu đà chín cây”...

Tiếng quạ kêu vọng vào thơ Việt mang một âm hưởng khác. Nhiều bậc nam nhi thuộc lòng câu thơ của Nguyễn Hữu Cầu thể hiện cái chí khí vẫy vùng dọc ngang ngang dọc muốn rời bỏ cái ngột ngạt vươn tới cái tự do sáng lóa: “Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu hán/ Phá vòng vây bạn với kim ô” (“Chim trong lồng”). Năm 1941 Quách Tấn in tập “Mùa cổ điển” có bài “Đêm thu nghe quạ kêu” mang âm hưởng Đường thi cổ xưa nhưng vẫn mở ra cái “hoang mang” của thực tại: “Tình hoang mang gợi tứ hoang mang...”.

Hình tượng “Trên mồ con quạ đứng im hơi” trong bài thơ có tên “Nấm mộ” của Bích Khê sẽ mãi gợi lên sự ám ảnh ở nhiều người. Nhưng có lẽ âm vọng của “Tiếng quạ trên sông Chu” (tên bài thơ) của Yến Lan là lay động hơn cả: “Tiếng quạ kêu - tiếng quạ kêu/ Khô khét, nôn nao một góc trời chiều”. Bài thơ làm trong bối cảnh bom đạn Mỹ ném xuống, tiếng quạ như thách thức với định kiến cổ xưa, cũng là thách thức với hoàn cảnh chiến tranh để vươn lên một ý nghĩa mới, một tâm thế, tâm thức mới lạc quan, khỏe khoắn. Cuối bài âm thanh tiếng quạ khác hẳn, nhất là hương ổi chân quê nồng nàn còn vương vấn mãi: “Tiếng quạ kêu, tiếng quạ kêu rộn rã.../ Mùi ổi thơm quán nhỏ quyến bay theo”.

Đầu thế kỷ XXI nhà thơ Mai Văn Phấn có bài thơ dài “Biến tấu con quạ” mang tính triết lý khá sâu sắc. Vừa kế thừa cổ mẫu, là biểu tượng của cái chết, của tối tăm, của sự băng hoại nhưng vừa đổi mới, cách tân, quạ còn là sự “khai sinh” ra một thế giới mới. Khép lại thi phẩm bật ra một ý nghĩa gợi mở: ngôi nhà đổi mới nào cũng phải dựa trên nền truyền thống. Chỉ có thể phá bỏ cái cũ lỗi thời mới tạo ra cái mới hiện đại. Bốn chữ “Con quạ rực sáng” khái quát cao nhất ý nghĩa “biến tấu” của biểu tượng!

  • Con quạ bay trong bầu trời văn hóa ảnh 3 Kiên "Lục bát" - Người quê nâng những hồn quê
  • Con quạ bay trong bầu trời văn hóa ảnh 4 Những cuốn sách ra đời từ đại dịch
Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.