Con bò trong văn chương Việt

So với con trâu, con bò trong văn chương Việt chiếm một vị trí khiêm tốn hơn nhiều về số lượng các tác phẩm. Sở dĩ có điều này vì OK9giaitri đăng nhập văn hóa, OK9giaitri đăng nhập Ok986.com Việt Nam Casino, Nổ Hũ cổ truyền của người Việt gắn với trâu nhiều hơn. Việc nuôi bò chỉ thực sự phát triển từ đầu thế kỷ 20, khi người Pháp đưa các giống bò Ấn Độ và châu Âu vào Việt Nam.

  • Khi văn chương Việt đối mặt cái ác
  • Người nông dân đang vắng bóng trong văn chương Việt

Sau 1954, người Việt mới phát triển mô hình nông trường chăn nuôi bò. Nông trường Mộc Châu là nông trường đầu tiên được thành lập năm 1958, tiếp đó là nông trường Ba Vì những năm 1959-1960 với các giống bò sữa được nhập từ Trung Quốc và Cu Ba. Thế nhưng không vì số lượng ít mà các tác phẩm về con bò kém phần đặc sắc. Sau đây chúng ta sẽ cùng ngược dòng lịch sử để ôn lại những sáng tác tiêu biểu nhất liên quan đến con bò.

Con bò trong văn chương Việt -0
Một tác phẩm trong bộ tranh “Nguyện cầu” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều.

Trong văn học hiện đại Việt Nam, bài thơ về con bò gây ấn tượng độc đáo đầu tiên là một bài thơ dành cho thiếu nhi, bài “Chú bò tìm bạn” của nhà thơ Phạm Hổ, in trong tập thơ cùng tên năm 1956: Mặt trời rúc bụi tre/ Buổi chiều về nghe mát/ Bò ra sông uống nước/ Thấy bóng mình, ngỡ ai/ Bò chào: - “Kìa anh bạn!/ Lại găp anh ở đây!”/ Nước đang nằm nhìn mây/ Nghe bò, cười toét miệng/ Bóng bò chợt tan biến/ Bò tưởng bạn đi đâu/ Cứ ngoái trước nhìn sau/ “Ậm ò” tìm gọi mãi.

Vẻ đẹp của bài thơ “Chú bò tìm bạn” có lẽ nằm ở thủ pháp nhân cách hóa tài tình được tác giả sử dụng xuyên suốt bài thơ. Lấy chú bò làm trung tâm, cả một thế giới xung quanh chú bò hiện lên ngộ nghĩnh, đáng yêu. Mặt trời không lặn mà rúc bụi tre, buổi chiều biết lắng nghe, nước biết cười nhoẻn miệng…Và đặc biệt là chú bò nhìn bóng mình mà cứ ngỡ là ai. Tiếng “ậm ò” của chú bò đã trở thành lời chào, lời gọi bạn thân thương, mang trong đó cả những ngơ ngác, dường như có cả một chút buồn vì không biết người bạn đi đâu. Thủ pháp nhân hóa làm chú bò giống như một người bạn nhỏ, có những biểu hiện cảm xúc thật sống động, làm mỗi chúng ta đọc xong bài thơ vẫn còn lưu luyến mãi.

Năm 1960, nhà văn Hồ Phương sáng tác truyện ngắn “Cỏ non” với bối cảnh vùng đồi Con Cuông, Nghệ An. Nhân vật chính trong truyện là Nhẫn, người công nhân phụ trách việc chăn nuôi bò. Tác phẩm được viết trong cảm hứng OK9 đã banh chủ nghĩa Ok9 cab trò chơi casino phổ biến ở miền Bắc, mang đến cho người đọc một tinh thần hăng say lao động không quản ngại gian khó, một không khí tươi sáng đầy lạc quan: “Cả đàn bò rống lên sung sướng. Nhẫn cũng phải đứng dừng lại một bước, hai mắt sáng rực lên. Qua có mấy đêm mưa phùn mà cả khu đồi Con Cuông đã thay đổi hẳn bộ mặt. Cỏ non đã mọc tua tủa. Một màu xanh non ngọt ngào, thơm mát trải ra mênh mông trên khắp các sườn đồi”.

Người đọc còn nhớ mãi tên của từng con bò trong truyện như: con Nâu, con Hoa, chị Vàng, cu Tũn và đặc biệt là con Ba Bớp hay vi phạm kỷ luật, tách đàn chạy đi chơi. Tình cảm của Nhẫn với đàn bò không chỉ là nhiệm vụ Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP đơn thuần mà anh yêu đàn bò như những đứa con trong gia đình. Khi con Ba Bớp vấp phải tảng đá ở lòng suối cạn và bị trẹo chân, Nhẫn đã kêu lên đầy thương xót: “Khổ chưa con? Ai bảo quẩng mỡ chạy đi cho nó khổ thế này? Có đau lắm không?” Truyện được mở đầu và kết thúc đều bằng những hình ảnh cỏ non như ẩn dụ cho một sức sống đang căng đầy, vươn trào.

Nếu như Hồ Phương làm nên một hình tượng anh Nhẫn chăn bò ấn tượng trong văn xuôi thì Bùi Giáng tạo được một hình tượng chăn bò độc đáo trong thơ: Anh lùa bò vào đồi sim trái chín/ Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim/ Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín/ Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh…/Cây lá bốn bề song song từng lứa/Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn/ Hạnh phúc trời với đất mang mang/ Với bò giữa rừng hoang đương gặm cỏ/ Với người ngó ngất ngây đương nằm đó/ Không biết trời đất có ngó mình không (Anh lùa bò vào đồi sim trái chín, 1950)

Ở miền Nam Việt Nam trong khoảng từ 1966 đến 1972, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã sáng tác hàng loạt các ca khúc phản chiến, trong đó có bài “Du mục”. Hình ảnh đàn bò đi vào một thành phố hoang vắng xuyên suốt từ phần đầu đến phần cuối trong lời ca của bài hát: Đàn bò vào thành phố/ Đêm buồn vắng buồn hơn/ Đàn bò vào thành phố/ Không còn ai hỏi thăm/ Đàn bò tìm dòng sông/ Nhưng dòng nước cạn khô/ Đàn bò bỗng thấy buồn, bỗng thấy buồn/ Rồi một hôm đứng mơ mây ngàn (…) Đàn bò vào thành phố/ Reo buồn tiếng hạt chuông/ Một người vào thành phố/ Nghe hồn giá lạnh băng.

Nói đến đàn bò mà phải chăng để nói về thân phận điêu tàn của con người trong cuộc chiến. Đàn bò vốn sinh ra để phục vụ cho OK9giaitri đăng nhập của con người, được chăn nuôi và chăm sóc cẩn thận. Vậy mà bây giờ đàn bò đi lang thang. Dường như một nguồn sống đang tàn phai bởi sự bình yên không còn nữa trên mảnh đất này.

Cũng viết về con bò trong chiến tranh, nhà thơ Văn Lê có bài thơ “Tiếng gọi bò” năm 1971. Nếu như anh Nhẫn trong truyện ngắn “Cỏ non” sau một hồi tìm kiếm vất vả đã thấy được con Ba Bớp thì người mẹ và em thơ trong bài “Tiếng gọi bò” chỉ biết kiếm tìm trong vô vọng: Tiếng của mẹ già sặc sụa với cơn ho/ Tiếng gọi của em thơ nghe buồn như khóc/ Tiếng gọi bò vần ta trằn trọc/ Trong căn hầm trống trải ven sông/ …Pháo giặc trời xa vẫn nổ ì ầm/ Mẹ ơi! Không thể thấy bò đâu, dù suốt đêm mẹ gọi/ Đồn giặc rất xa, gió không mang tới/ Con bò của mẹ giữa vòng gai/ Tiếng gọi bò ở hai đầu đêm nay/ Cứ vần súng và ta trằn trọc...

Năm 1981, khi OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao đã thống nhất được 6 năm, con người được sống trong hòa bình yên ổn, không còn phải lo sợ bom đạn chiến tranh, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết bài thơ “Chiều Hương giang” nổi tiếng mà trong đó, con bò là điểm nhấn đặc biệt quan trọng trong khung cảnh yên bình: Nhưng chiều nay con bò gặm cỏ/ Bên dòng sông như chưa biết chiều tan/ Tôi với nó lặng im, bè bạn/ Mắt nó nhìn dìu dịu nước Hương Giang. Một sự tề đồng vật ngã cao độ giữa chủ thể và khách thể, giữa người và vật, giữa tâm cảnh và ngoại cảnh. Con bò bình yên và lòng người cũng bình yên.

Nếu như câu cuối khổ thơ thứ hai tả mắt con bò dìu dịu nước Hương giang thì đến câu cuối khổ thơ thứ ba, cũng là khổ thơ khép lại thi phẩm, Nguyễn Khoa Điềm hạ bút: Nhưng chiều nay vô tình trong nắng muộn/ Mắt tôi nhìn trong suốt nước Hương giang. Có những sự đắc ngộ đến một cách tự nhiên không hề định trước, mà từ đó con người hiểu ra những giá trị cuộc sống thật gần gũi ở quanh mình.

Nhiều thập niên trôi qua kể từ bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm, không có thêm một bài thơ nào với hình ảnh con bò khiến cho tôi chú ý. Cho đến những ngày đầu xuân vừa qua, khi nhà thơ Nguyễn Quang Thiều công bố trường ca “Lò Mổ”, đây thực sự là một ấn tượng lớn. Cho đến lúc này, trong văn học Việt Nam, “Lò Mổ” là tác phẩm thơ có dung lượng lớn nhất viết về con bò, xoay quanh con bò, lấy lò mổ bò làm không gian trung tâm.

Lò Mổ” là cuộc kết hợp thơ – họa đặc sắc khi 18 phụ bản tranh minh họa đều do chính nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vẽ. “Lò Mổ” tạo nên những hiệu ứng thị giác độc đáo cho từng tranh sách, trong đó phải kể đến chương thứ ba của trường ca mang tên “Bầy ruồi” chỉ có một chữ ruồi duy nhất được lặp lại triền miên theo những sắp đặt vị trí khác nhau trên trang giấy, mức độ đậm nhạt, xa gần, tâm biên thay đổi qua 15 trang.

Lò Mổ” gồm 18 chương với hai nhân vật chính là chàng trai và con bò (những con bò, đàn bò). Ngoài ra còn có các nhân vật khác vây quanh như: chủ lò mổ, chủ nhà trọ, nàng, cha xứ, bầy ruồi. Hành trình của “Lò Mổ” là hành trình đi từ cái chết về sự sống, từ cái ác hướng về cái thiện. Chương một mở đầu với cái chết của con bò trong lò mổ dưới bàn tay đồ tể nhưng đôi mắt bò trước sau không có gì thay đổi: Đôi mắt mở dịu dàng/ Buồn bã/ Không bao giờ rơi lệ… Đôi mắt/ Mùa thu xa xôi.

Những tự sự của con bò còn trải khắp trong các chương của trường ca: Con là một con bò mùa thu/ Thức dậy trong ban mai huyền ảo/ Đã đến giờ con ra đi…Tấm da nặng nề đã trút khỏi/ Con bay qua ô cửa sổ lò mổ/ Con để lại cái đầu/ Cặp sừng ngà lấp lánh/ Con để lại đôi mắt/ Ngôi sao Hôm thăm thẳm/ Con để lại chum máu/ Phần sống nóng hổi và tự tin/ Con để lại tấm da/ Trĩu buồn manh áo cũ/ Con để lại tiếng rống/ Reo ca trên cánh đồng/Con để lại cổ họng/ Lưỡi dao buồn ngủ sâu. Tác giả viết về cái chết của con bò như một sự ra đi nhẹ nhàng, bình thản. Viết về sự sống chết của con bò mà khiến mỗi chúng ta không thôi nghĩ về OK9giaitri đăng nhập của mỗi con người.

Chương cuối cùng khép lại trường ca cũng là khi chú bê con được sinh ra, một sự sống nhóm lên thay thế cho cái chết: Sau tiếng rống dội vang/ Tiếng kèn hiệu/ Một chú bê được sinh ra/ Con bò gục xuống sàn đá lạnh/…Chàng nghe trái tim non nớt của con bê/ Đập rung lên từng hồi/ Quả chuông lớn nhất thế gian/ Làm tan đi những gào thét. “Lò Mổ” là một trình hiện thành công khi tạo ra một liên văn bản từ siêu thực đến hậu hiện đại, hòa trộn giữa hiện thực và lãng mạn huyền ảo, tạo nên một thi giới vừa bi thương vừa dữ dội mãnh liệt, dồn nén những sức nặng của tư tưởng.

Con bò trong văn chương Việt đi từ thập niên 50 của thế kỷ trước đến thập niên thứ ba của thế kỷ này đã tạo ra những bước tiến dài về thế giới quan và tư duy sáng tạo của người nghệ sĩ.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.