Cơm tẻ của người Việt

Tôi từng nói rằng người Việt ai cũng ăn cơm tẻ, không ăn cơm tẻ không phải người Việt. Lời nói ấy có đôi chút thậm xưng nhưng để nhấn mạnh rằng cơm tẻ là thứ gắn bó mật thiết với người Việt từ ngàn đời.
  • Tín ngưỡng thờ tam, tứ phủ của người Việt
  • Ba kích – Cây thuốc quý của người Việt

Từ lúc đứa trẻ vừa mọc răng sữa, các bà mẹ đã tập cho con mình ăn cơm tẻ. Ban đầu là thứ cơm hơi nhão, mềm một chút để đứa trẻ dễ nhai. Có nơi, vào cái thời cũng chưa xa lắm có thói quen mớm cơm cho trẻ con. Bởi vì ăn cơm nát thì nhạt, không ngon, các bà, các chị nhai cơm khô bình thường cùng với cá thịt, khi cơm đã gần nhuyễn ra thì mớm miếng cơm ấy cho con, cho em mình. Bây giờ người trẻ nhìn thấy như vậy thì cho rằng mất vệ sinh, khó coi nhưng thói quen ấy đã có từ rất lâu đời, rất gần đây mới bị loại bỏ. 

Thói quen ấy cũng rất gần gũi với thiên nhiên, muông thú. Những con chim bồ câu, cò, diệc và nhiều giống chim khác đều nuôi con như thế. Người mẹ chim kiếm thức ăn rồi nuốt tạm vào diều, lúc trở về tổ, thấy những mỏ chim con há rộng ra kêu chíu chít liền ựa thức ăn mớm cho từng đứa một. Hình ảnh ấy rất đẹp và giàu tình mẫu tử. Đã có nhiều bức ảnh, thước phim chân thực, cảm động ghi lại những cảnh ấy.

Đến đây tôi lại nhớ một đoạn rất ấn tượng của nhà văn Mạc Ngôn trong cuốn tiểu thuyết lớn nhất của ông: “Báu vật của đời”. Trong cuốn tiểu thuyết ấy có một bà mẹ đông con OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á trong thời kì đói kém, khi làm ở xưởng chế biến lương thực bà đã bí mật nuốt sống những hạt ngô cho đầy bụng mình rồi khi về nhà liền thò tay móc họng nôn ra vào một chậu nước. Rửa sạch ngô rồi bà mẹ lại nấu cho các con ăn để khỏi chết đói!

Những bà mẹ Việt mớm cơm cho con ăn là chuyện rất bình thường từ lâu đời và chính tôi là đứa trẻ đã được lớn lên từ những miếng cơm mớm ấy.

Cơm tẻ với người Việt đương nhiên là thức ăn quan trọng số một, như bánh mỳ với người Âu, Mỹ vậy. Người ta ăn cơm tẻ suốt cuộc đời và không thấy chán. Các bữa sáng, trưa, tối đều đơn giản gọi là “ăn cơm” vì thành phần quan trọng và nhiều nhất trong các bữa ăn là cơm. Rau, thịt, cá là những thứ phụ họa hoặc thỉnh thoảng có cơm nếp góp mặt ở những dịp giỗ Tết thì gọi là ăn cho vui, đổi bữa. Còn ăn cơm được đối với người Việt nghĩa là còn khoẻ mạnh, cảm thấy bình thường. Không ăn được cơm nghĩa là đang bị ốm hoặc cơ thể có những biểu hiện bất thường. Ngày trước, khi có ai bị ốm người ta thường hỏi thăm bằng câu: “Đã ăn cơm được chưa?”. Trả lời đã ăn cơm được tức là mọi việc đã khá hơn, người bệnh dần khoẻ lại.

Nấu cơm là một trong những kĩ năng quan trọng bậc nhất báo hiệu đứa trẻ dần trưởng thành. Ngày xưa nhà nào cũng nấu cơm bằng bếp củi hoặc sang hơn thì bằng bếp than. Kĩ năng nấu cơm bao gồm từ việc đong gạo trong chum ra, bao nhiêu bát, bò (ống) gạo thì đủ cho gia đình ăn, đấy là chưa tính đến việc độn sắn, khoai hoặc các thứ khác. Gạo đong ra đựng trong rá tre để vo cho sạch. Thao tác vo gạo gồm khuấy gạo lên trong chậu nước để đãi bỏ những hạt thóc, sỏi, vỏ trấu hoặc những con mọt béo mầm sống kí sinh trong gạo, để gạo trắng hơn một chút. Cho gạo vào nồi thì cũng cần đo mực nước sao cho vừa đủ. Vì ít nước thì cơm khô, nhiều nước thì cơm nhão. Bọn trẻ con thường lấy ngón tay trỏ nhúng vào nồi cơm để tính mực nước theo lời dặn của mẹ.

Nồi cơm đặt lên bếp lửa hoặc bếp than và điều chỉnh lửa đúng độ. Nếu lửa cháy kém quá, cơm lâu sôi, hạt gạo sẽ trương phềnh lên thành những quả núi nhỏ trong nồi, cơm nhạt nhẽo, bùng bục. Nếu lửa cháy to quá, nhất là lúc đang sôi thì cơm sẽ khê, khét.

Khi nào cơm sôi hẳn thì lấy đũa cả khuấy một lượt để nước và gạo được trộn đều, dễ chín. Nồi cơm sôi thì mở vung ra để nước khỏi trào và quan sát những cái bong bóng nổi lên rất thích mắt. Khi cạn nước những vết sôi ấy để lại những cái hút nhỏ như lỗ con chạch thở trên mặt bùn. Cơm là loại lương thực được chế biến khá đặc thù, bảy mươi phần trăm cơm được chín khi nước sôi, ba mươi phần trăm còn lại chín bằng hơi nóng lúc ủ. Khi nồi cơm cạn nước thì rút bớt củi ra để vần cơm. Than củi để vần cũng phải đủ độ, nhiều quá thì cơm bị cháy mà ít quá thì sống sượng. 

Khi nào đứa trẻ nấu được một nồi cơm không khô, không nát thì coi như đã đạt yêu cầu. Kĩ năng nấu cơm không phải làm một hai lần là được mà phải rèn luyện, quan sát và rút kinh nghiệm. Nếu ẩu tả, chủ quan, rất dễ dẫn đến tình trạng: Trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét! Người ta cũng thường hỏi thăm con cái nhà nhau bằng câu: Thằng cu nhà chị đã biết làm gì rồi? Dạ, đã biết nấu cơm rồi cô ạ. “Đã biết nấu cơm” là một cụm từ rất đáng tự hào và bọn trẻ của ngày xưa, cả trai và gái đều phải học nấu cơm.

Nấu cơm tẻ bằng nồi gang, bếp củi cơm thơm và ngon hơn.
Nấu cơm tẻ bằng nồi gang, bếp củi cơm thơm và ngon hơn.

Cơm chín rồi, dọn mâm bát ra, cả nhà ngồi quây quần. Nồi cơm vừa mở vung, hơi nóng bốc lên ngùn ngụt như khói toả, dùng đũa cả bằng tre đánh cơm tơi đều ra rồi xới vào từng bát cho mọi người. Người ngồi đầu nồi thường là bố mẹ, khi con cái trưởng thành thì anh chị lớn nhất nhận lấy vị trí ấy thay cha mẹ. Người ngồi đầu nồi rất quan trọng vì phải điều tiết lượng cơm cho cả nhà và phân chia sao cho hợp lý (cơ bản là cơm ít quá và đôi khi rất nhiều khoai sắn độn vào để ăn cho no). Cái câu: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” cũng nảy sinh từ thực tế này.

Nếu trong nhà có một ông bố thích ăn cơm cháy thì người nấu cơm cần thao tác thêm vài công đoạn. Để có mảng cơm cháy vàng ruộm, giòn tan thì cần phải nấu cơm bằng nồi gang vì gang là thứ giữ nhiệt tốt và thường được đúc dầy, nấu cơm rất tiện. Để có vầng cháy thơm ngon thì lúc vần cơm cần giữ lượng than ủ nhiều hơn một chút và duy trì lâu hơn. Công đoạn tạo cháy là cả một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 vì có khi miếng cháy mỏng quá, non quá hoặc cháy khét đen sì cũng như phải chọn loại gạo thích hợp. Đó là thứ cơm cháy truyền thống chính cống chứ không giống kiểu cơm cháy được làm bằng máy, xốp phồng, chiên mỡ như bây giờ.

Tất nhiên cái khoái thú có vầng cơm cháy giòn tan ăn tráng miệng thì chỉ nấu bếp củi, bếp than mới có. Bây giờ thì nấu cơm dễ quá, có nồi cơm điện, chỉ cần cho gạo, nước vào nồi, cắm điện, bấm nút là xong. Nồi cơm điện đã được tính toán lập trình, không cần mở vung ra xem cơm đã sôi hoặc chín chưa làm gì. Công đoạn nấu hoàn tất, nồi cơm sẽ báo đèn hiệu và cứ thế mà ăn.

Hạt cơm được trân quý bởi một nắng hai sương làm lụng thì không bỏ đi bất cứ tí gì. Cơm không ăn hết gọi là cơm nguội và để đến sáng hôm sau có thể rang lên cho cả nhà làm bữa sáng. Cơm rang cần có trứng, tí mỡ, tí hành, nước mắm và cũng là món quà sáng phổ biến hạng nhất của thời gian khó. Giờ thì cơm rang đã vào nhà hàng như một món ngon quen thuộc vì rất ít người rang cơm ở nhà. 

Nếu không rang thì chỗ cơm nguội ấy được ghế cho bữa cơm sau, khi nồi cơm cạn nước hút lỗ chạch thì đổ cơm nguội lên trên hấp cho nóng. Nếu không muốn làm theo cách trên thì cơm dư thừa có thể phơi nắng, cho vào lọ kín để dành như lương khô, lúc dùng cho thêm tí đường, mỡ đảo qua thành thứ quà vặt giòn giòn, ngòn ngọt ăn những khi buồn miệng. 

Đến cả loại cơm thiu hẳn ra thì người ta cũng không đổ đi, nó dùng để nuôi mẻ, một thứ gia vị chua chua rất điển hình trong ẩm thực của người Việt, vị thì mềm và đặc trưng hơn cả dấm thanh. Ở nông thôn ngày xưa hầu như nhà nào cũng có một hũ mẻ để góc bếp, bây giờ nhiều người nấu món chua mà không cho mẻ coi như món ăn đã hao hụt một phần đáng kể.

Cơm tẻ tuy bình dân nhưng hợp tạng với hầu như tất cả các món ăn khác. Nghèo thì ăn cơm với muối vừng, muối lạc, cà muối, canh cua. Thậm chí với bát cơm trắng chỉ cần rưới tí nước mắm trộn đều cũng đủ ấm bụng người nghèo khó. Sang hơn thì ăn cơm với cá kho, giò, chả, canh riêu, thịt kho. Đã có bát cơm tẻ vào bụng thì chắc dạ, Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 cả buổi không phải lo lắng, tơ tưởng thứ khác. 

Bởi vậy mới có câu: “Đói thì thèm thịt thèm xôi/ Đã no cơm tẻ thì thôi mọi đường”. Cơm tẻ là thức ăn trụ cột, là nền tảng quan trọng nhất trong bữa ăn người Việt. Người ta ăn cơm hàng ngày, quen thuộc đến mức không cần nhớ nó có từ bao giờ và việc nấu cơm ra sao. Cứ như thế từ ngàn đời, cơm đã trở thành người bạn thân thiết và không thể thiếu được của người Việt. Và chẳng phải hạt cơm giống như mẹ cha của chúng ta đó sao?

Uông Triều

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.