Chim bồ câu bay ở phương Đông!

Được mặc định là biểu tượng của hòa bình trên khắp thế giới đương đại nhưng trong bầu trời văn hóa cổ phương Đông, chim bồ câu có những đường bay khác lạ thể hiện những quan niệm, tư tưởng đáng chú ý.

  • Nồi cơm - cổ mẫu “hết lại đầy”!
  • Cái ghen Ok986 vip Thiên đường trò chơi...!!!

Tận xa xưa, có lẽ xuất phát từ đặc trưng được dùng để đưa thư, mà thư thì gắn liền với niềm hy vọng, mong mỏi, đợi chờ; hơn nữa lại đưa thư chính xác, nhanh chóng nên chim bồ câu được coi là vật tượng trưng cho "cát tường", "bình an", "tín nghĩa". "Sơn Hải kinh", một trong những sách cổ nhất Trung Quốc đã ghi chép việc Tây Vương Mẫu sai "chim xanh" (bồ câu) đưa thư vào cung Hán Vũ Đế.

image001.jpg -0
Bồ câu trên tay Phật.

Cũng trong sách này có thuật những chuyện vợ chồng không hòa hợp, hay cãi cọ nhau thì nên nuôi chim bồ câu. Vì tập quán vợ chồng chim luôn bên nhau, hòa hợp, thân tình, quấn quýt không rời. Những âm thanh "cúc cu" gợi nên sự ấm áp như "cầm sắt hòa minh". "Cầm sắt" là đàn cầm và đàn sắt, hai loại nhạc khí thời cổ xưa, tương truyền do Phục Hy chế ra để thuận hòa khí âm dương, thuần khiết nhân tâm, chỉ cảnh vợ chồng con cái đầm ấm (Thê tử hảo hợp như cổ sắt cầm). Từ đấy chim bồ câu tượng trưng cho gia đình hạnh phúc.

Từ câu chuyện cổ "Giếng bồ câu" (nay ở thành phố Thạch Gia Trang, Hà Bắc, Trung Quốc) chép trong sách "Kỳ Phụ thông chí" kể: Thời Xuân Thu chiến quốc Hán Sở tranh hùng, Hán Cao tổ Lưu Bang bị Hạng Vũ truy sát nên trốn dưới cái giếng, quân lính đuổi đến thấy hai con chim bồ câu thanh thản, yên lành đậu trên miệng giếng, tưởng không ai dưới đó nên bỏ đi. Lưu Bang thoát nạn. Thế là từ đó bồ câu còn tượng trưng cho may mắn, bình an.

Chim bồ câu bay nhiều trong Phật thoại nhưng chưa vươn tới tư cách biểu tượng, chỉ như con thuyền để chuyên chở những giáo lý sang bên kia bến Giác.

Truyền thuyết về Đức Phật kể, một hôm, Đức Phật cùng Tôn giả Xá Lợi Phất đang tản bộ, bỗng xuất hiện một con chim ưng đuổi bắt con chim bồ câu. Bồ câu bèn bay đến núp dưới bóng Đức Phật nên thoát nạn. Bóng Phật rời khỏi chim, bóng Tôn giả phủ lên nó. Bồ câu bỗng lộ vẻ hoảng sợ. Ngài liền thưa với Phật: Vì sao chim núp bóng Người thấy an yên, nhưng dưới bóng con lại sợ hãi? Đức Phật đáp vì trong ông "tập khí" (tức những phiền não còn sót lại dai dẳng) chưa hết.

Đức Phật lại bảo Tôn giả xem nó bị đọa làm chim đã bao lâu rồi. Tôn giả thiền nhập định, rồi thưa: Con chim này bị đọa làm chim đã được 8 vạn kiếp, kiếp nào cũng làm thân bồ câu. Phật lại nói xem tương lai nó bao giờ mới thoát khỏi kiếp chim, để làm người trở lại. Lúc sau Tôn giả trả lời đệ tử chỉ nhìn thấy được 8 vạn kiếp nữa nó vẫn làm thân chim, còn bao giờ được làm người thì không rõ. Đức Phật thong thả nói: Con bồ câu này đời quá khứ đã phạm nhiều tội. Nó phải trải qua số kiếp làm thân chim nhiều như cát sông Hằng, mới được làm người…

Thông qua hình tượng chim bồ câu, câu chuyện toát ra ít nhất ba bài học: Một là, quan niệm về con người rất quý, quý vô cùng, như con bồ câu kia chỉ vì kiếp người có tội nên bị hóa kiếp chim. Muốn trở thành người phải mất mấy lần 8 vạn kiếp, còn phải trả tiếp các kiếp "nhiều như cát sông Hằng"… Thế nên những ai đang được làm người phải biết vô cùng trân quý chính con người mình, những người đẻ ra mình, giúp mình, cả những người xung quanh mình. Nhất là phải sống đích thực con người để kiếp sau vẫn được làm người. Còn không như con chim bồ câu kia, biết khi nào "hoàn kiếp"?

Hai là, rũ bỏ hết "tập khí" tham, sân, si rất khó. Như Tôn giả Xá Lợi Phất kia đi theo Phật, có tài nhìn thấu 8 vạn kiếp trước và sau của chim bồ câu, nhưng vì còn "tập khí" trong người nên không thể nhìn tiếp các đời "vị lai" (tương lai) của chim. Chỉ có Phật đã "vô thường" tuyệt đối, trong sáng tuyệt đối nên mới có thể nhìn thấu mọi kiếp trước sau của sinh linh.

Ba là, phải trở thành người tốt mới có thể che chắn, giúp đỡ được người khác. Mà muốn thành người tốt (như Đức Phật) phải biết hy sinh, biết buông bỏ, biết tu tập… Như Tôn giả Xá Lợi Phất dù tài giỏi nhưng chưa được là Phật vì trong người còn có "tập khí". Con người ta cũng vậy phải biết học tập, rèn luyện, biết bỏ qua tính xấu luôn tìm mọi cách níu nhân cách xuống sự thấp hèn…, mới có thể thành người tốt. Phật ở đây biểu tượng cho phạm trù lý tưởng để con người vươn tới, đạt tới.

Xin kể lại một thần thoại Phật có tên "Phật cắt thịt mình thế thịt chim bồ câu". Hôm ấy trời đẹp, ánh dương chiếu khắp, cảnh sắc tươi vui, Ðức Phật đi vào rừng bỗng gặp một con chim ưng lớn đuổi theo một con chim bồ câu. Chim bồ câu bay nhanh tới đậu bên cạnh Ngài để lánh nạn. Chim ưng nói: "Ngài thương mà muốn cứu sống bồ câu, chẳng lẽ để cho tôi chết đói. Như vậy Ngài không phải người tốt". Ðức Phật hỏi: "Ngươi cần gì để no lòng, ta sẵn sàng cung cấp". Chim đáp: "Tôi muốn ăn thịt". Ðức Phật liền rút con dao, thản nhiên cắt thịt nơi cánh tay mình đưa cho chim. Chim ưng chê ít không bằng thịt bồ câu. Ðức Phật lại xẻo thêm… Cắt đến tận xương vẫn không đủ thịt chim yêu cầu.

Chim ưng hỏi: "Ngài có hối tiếc khi hủy hoại cánh tay của Ngài không?". Ðức Phật trả lời: "Không. Hạnh nguyện của ta là cứu độ tất cả mọi chúng sanh thì một ít thịt nơi cánh tay có đáng gì!". Chim ưng mỉa mai: "Ngài nói nghe đạo đức quá mà không biết có thực tâm không?". Ðức Phật liền đáp: "Nếu lời nói của ta xuất phát từ sự chí thành thì mong thịt cắt khỏi cánh tay sẽ liền lại như trước". Vừa phát lời thề nguyền, cánh tay Ngài tức khắc lành lặn hồng hào như cũ…

image003.jpg -1
Tranh “Bạch điểu và tượng Quan âm”.

Câu chuyện minh họa cho giáo lý nhà Phật về cứu độ chúng sinh nhưng ý nghĩa của nó mang tính phổ quát rộng rãi hơn nhiều: Một là, sẵn sàng hy sinh cái nhỏ để phục vụ cho cái lý tưởng lớn lao. "Cứu độ chúng sinh" là lý tưởng lớn nhất của Phật thì hy sinh một ít thịt trên cơ thể mình cũng chẳng mấy băn khoăn. Con người ta cũng vậy, khi xác định cái lý tưởng lớn nhất của cuộc đời thì phải hy sinh cái nhỏ cũng là lẽ thường.

Hai là, Đức Phật thành tâm cứu chim bồ câu nên sẵn sàng cắt thịt mình cho chim ưng để bồ câu được sống. Đó là hành vi thương người, giúp người một cách cao nhất, tuyệt đối. Vì có gì quý hơn thịt da mình đâu. Đức Phật lấy cái quý nhất ấy để cứu một sinh linh hiền lành, bé bỏng. Hỏi còn gì cao thượng hơn thế!? Thì ra, hãy thương người, giúp người một cách chân thành (chí thành) nhất thì luôn gặp điều tốt đẹp, an lành, tránh được mọi tai ương.

Nhà Phật còn mượn hình tượng chim bồ câu để Ok986 tải ứng dụng đạo đức, qua một ngụ ngôn. "Kinh Bách Dụ" kể vợ chồng chim bồ câu nọ chăm chỉ, mùa thu tha về đầy tổ trái cây ngon để dành cho mùa đông. Thời gian trôi, những trái cây khô tóp lại còn nửa tổ, chim chồng nghi vợ ăn vụng bèn căn vặn, gây sự rồi nóng nảy đến mức mổ chết chim vợ. Hôm sau trời mưa, quả ngấm nước nở ra đầy tổ như cũ. Chim chồng bàng hoàng bấy giờ mới nhận thức ra rằng quả khô lại thì bé đi. Sự hối hận đã quá muộn màng.

Câu chuyện Ok986 tải ứng dụng gia đình vợ chồng phải biết yêu thương, tin nhau. Tình thương yêu và niềm tin là nền móng của ngôi nhà gia đình. Nền móng lung lay thì ngôi nhà, không chóng thì chầy, tất sẽ sụp đổ. Tương tự, cái gốc của nhân cách người là niềm tin. Cái gốc mục thì cây ắt sẽ đổ. Con người không có niềm tin tất sẽ có tính cách vũ phu phi nhân tính. Vì không tin vợ nên chim chồng mới hành động giết vợ. Không tin vợ dễ dẫn tới thói gia trưởng, thêm một chút nóng nảy không làm chủ được mình, những anh chồng vũ phu dễ gây ra tai họa. Cái quan trọng nhất của gia đình là giữ hòa khí, nhiều khi biết nín nhịn, biết "chín bỏ làm mười"…

Trong OK9giaitri đăng nhập người Việt xưa chim bồ câu như là một loài gia cầm nuôi lấy thịt, nhưng không được yêu mến. Đó là loài vật tham ăn, biểu trưng cho tính cách dễ bị lôi kéo, dụ dỗ vì miếng ăn: "Thóc đâu bồ câu đấy". Là loài vật nhưng không có nhiều lợi ích, thậm chí phá hoại: "Muốn giàu nuôi trâu/ lợn nái/ Muốn lụn bại nuôi bồ câu". Có lý do là ngày xưa thóc gạo rất quý mà bồ câu thường ăn thóc. Nhiều khi chim hay lẻn vào nhà, tìm chỗ để thóc ăn vụng. Mái nhà xưa hầu hết lợp rơm rạ, là nơi để chim bới tìm thức ăn dẫn đến nhanh hỏng, dễ dột nát… Nhà nào giàu có "nhà ngói cây mít" mới nuôi chim bồ câu. Nhưng chim lại bay sang mái nhà láng giềng… Thế là ghét chim ghét lây sang người…!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.