Chạy lũ

Cảnh chạy lũ tương tự mọi năm, đầy những cảnh dở khóc dở mếu. Trông ai cũng tá hỏa, mệt bã và sẵn sàng cáu bẳn. Chạy đến xoắn quẩy thế mà vẫn không kịp. Nhoáng cái nước đã vào tới sân, ngấp nghé ngoi lên thềm.
  • Dấu ấn OK9 trang cược thể thao xanh chín nhất châu Á xã chính quy giúp dân trong mưa lũ
  • Hàng nghìn cây quất bị héo lá, rụng trái sau đợt mưa lũ
  • Những câu chuyện cảm động trong mưa lũ

Nắng bể đầu, cây cỏ gà vẫn chỉ phơn phớt héo ở viền lá. Mẹ bảo, cỏ gà mọc loang cả làng đầy nước, năm nay lũ sẽ to lắm. Nghe thế, biết thế, tôi lại không tin là thế. 

Ra Hà Nội, tôi lững thững đón cái nắng vàng, gió hanh giàn giụa khắp triền phố. Cái bụng vẫn chưa hết vân vi về cây cỏ gà đổi màu trắng ở xứ "chảo lửa túi mưa". 

Mỗi dịp Trung Thu về, trẻ con làng tôi lại hí hởi đi nhận vắt xôi, gói bim bim. Mọi năm, cứ sát dịp này mây ở làng thâm ngoét như môi của người rít thuốc tỳ tỳ. Gió lành lạnh, mênh mang buồn như đôi mắt xơ gầy, tan tác của đàn bà góa. 

Hết Rằm. Trăng teo dần còn một vệt mỏng. Sao ở đâu ùa về, rải lăm dăm như đá bị xe lu quần qua quần lại. Một mùa thu vời vợi, văn vắt vây lấy khu làng quạnh quẽ, tiếng gà trưa không đủ làm gió và lá cùng xao xác.

Nắng lắm thì mưa nhiều. Mưa tuôn. Mưa xối. Mưa dúi nhụi những mái tranh nát núa, mốc mủng. Mưa chui qua lỗ ngói vỡ, thả từng giọt a xít rát bỏng xuống vạt giường mủn mọt. Làng đổ ra đường, chạy tới chạy lui về phía cái khe Rò có cây đa to bằng ba gốc xà cừ già cỗi. Đợi mãi, cũng có tin báo về. 

Thằng Sỹ con mụ Ngải hớt hải ôm con chó ướt sũng về loan báo "nước lút khe Rò rồi, lụt to rồi". Làng tôi xưa nay không cần ti vi hay đài đóm để hóng tin bão lũ vì hễ nghe có tiếng sấm, vài tia chớp bắn ra là mất điện toàn làng. Ai nấy đều nhìn mực nước khe Rò để phán đoán dù khe bây giờ và ngày ấy độ nông sâu đã thay đổi. Khe Rò mà lút thì chần chờ gì mà không chạy lũ. 

Mưa phủ một màn trắng xóa. Mới ba giờ chiều làng đã tranh sáng tranh tối như cái lúc chập choạng. Ánh sáng yếu đi, nó lỉm dần trước sân nhà vi vút gió. Gió gào rú, vật qua vật về hàng mía vừa trổ lóng. Chốc sau, gió mệt thì mía cũng bổ nhào, bổ vật ra tứ phía. Trời tạnh mưa. Gió ri rỉ từng cơn rồi lồng lên như bà đẻ bị cơn co thúc xuống cửa mình. Mưa còn hay ngớt, gió ở lại hay đã cuốn xéo nẻo nào làng không quan tâm nữa. Ai nấy huých nhau chạy lũ.

Cảnh chạy lũ tương tự mọi năm, đầy những cảnh dở khóc dở mếu. Trông ai cũng tá hỏa, mệt bã và sẵn sàng cáu bẳn. Chạy đến xoắn quẩy thế mà vẫn không kịp. Nhoáng cái nước đã vào tới sân, ngấp nghé ngoi lên thềm. Tôi cố vớt lấy cuộc điện thoại trước khi mất liên lạc. 

Mẹ nói như hét vào tai tôi. "Mi tin tau chưa? Thấy bụi tre trổ hoa, tau đã nghi nghi rồi…". Mẹ nói có thế rồi máy tự ngắt, bỏ lại tôi giữa liêu xiêu gió lá. Tôi đoán mẹ đang cõng lúa quăng lên nóc "chạn". Nhà chả có chỗ nào cao bằng cái trần gỗ và cũng chẳng có cái gì đáng giá bằng ngần đó. Tôi sốt ruột, sôi bụng vì lo lắng. Hình ảnh những ngày tháo chạy ở quê lại hiện về, thắt nghẹt ở cuống cổ.

Thế nước đang lên thì lấy gì ngăn nổi? Chỉ có rừng nhưng rừng đã ngủ kỹ. Đêm đen, ánh nến lả đi trước luồng gió ngỗ ngược. Tiếng kêu cứu từng nhát, từng nhát bổ xuống mênh mông nước rồi tắt bặt. Lúc sau, cả làng kêu cứu, râm ran như bầy dế dàn đồng ca trên đồng vắng. Giờ ai bơi được thì bơi, không biết bơi thì ở yên đợi ứng cứu. Nước đã băng qua đường Hồ Chí Minh, còn gì nữa mà ở lại vớt vát. Ai nấy mau chóng kết bè chuối, ván gỗ cố men lên phía đường mòn. Lên tới nơi, thả bớt người rồi quay về đón nốt số còn lại. 

Đêm đó, mụ Tân "dở" vì nán lại cứu con lợn mẹ mà cả người lẫn lợn uống no nước. Làng vớt kịp đưa mụ lên thuyền, ấn vài ấn cho phì nước ra, nghe tin con lợn trôi về hố bom cuối làng mụ lại ngất. 

Ai vớt được con gì nho nhỏ còn thoi thóp thở thì đem đi cứu. Không sống nổi thì vặt lông, mổ bụng, nướng lên cứu đói cho cả làng. Dầm nước cả ngày, ai cũng mềm như cần nhúng lẩu. Trẻ con môi mày nhạt nhếch vì đói. Trông đứa nào cũng nhão, dão như dây thun ngâm dầu chỉ cần búng cái thì đứt đôi.

Tảng sáng, tiếng kêu cứu vãn dần, ánh đèn pin chỉ còn lác đác vài đốm nhỏ. Tài xế mắc kẹt trên đường mở đèn pha, rọi cho làng chạy lũ. Mưa vẫn dằng dai. Làng dựng lán, phủ bạt vênh vẹo trên cái sân khấu mà văn công, đoàn xiếc vẫn hay về diễn. 

Từ trên cao, tôi nhìn về làng. Ánh sáng đùng đục chảy loang tầm mắt, làng hiện ra một màu bùn lạnh lẽo và tan hoang. Tất cả chìm dưới biển nước, đâu đó lấp ló vài ba nóc nhà đang rướn lên trước khi bị nuốt chửng. Lại có tin xả đập, xả lũ ở đâu dội về. Làng ngao ngán, ngồi bó gối bó cả tâm tư. 

Vẫn biết, lũ đến hẹn lại về nhưng chẳng ai biết chạy lối nào để thoát khỏi nó thật êm thấm, bớt mất mát. "Thôi, lên được đây là sống rồi", làng cả nói cả cười như ngô nổ trong nồi đậy nắp. Các chị đỏ lửa nấu cháo. Củi ướt, khói hoen ố thêm hàm răng xỉn màu mủ chuối. Các mẹ cho con bú, cái rét của mưa gió thấm vào môi em bé làm thâm thêm quầng vú nhằng nhịt gân.

Lũ thi gan với dân làng, ngâm nga đúng năm ngày mới rút đôi phân gọi là có rút. Mưa vẫn kéo rê không ngớt. Làng hết cái ăn, bơ phờ ngồi chờ cứu trợ. Đêm loang lổ màu mực mài, nước bắt đầu rút. Làng chụm đầu ngồi bên đống lửa bê bết bùn đất. Họ kể nhau nghe nhà đã trôi những gì, lượm lặt được thứ gì. Trôi gì thì trôi, làng không trôi người nào là hạnh phúc.

Nước rút. Nhà trồi lên, đường hiển hiện ra. Người người rẽ nước lội lần về. Rắn chết vắt xác qua bờ rào. Con chim rét rụt lưỡi, co quắp trên cành bưởi gai góc. Nắng không đủ hồi sinh chút hơi tàn cho vô số sinh mạng nhỏ nhoi. 

Lũ dữ đi qua, khơi xa đã có cơn bão mới đang lừ lừ tiến về. Thiên tai đánh vu hồi, đánh cấp tập không năm nào bỏ quên dải đất nghèo khó. Lũ đi để lại một lớp thực dưỡng óng ả, mịn mờ nhưng tanh tao, bẩn bựa. Bà con lại lầm lũi đạp lên lầy lội mà sống. 

Tháng Mười, thóc mọc mầm phơi đầy ngõ. Tóc tiên nở rợp chân rào, sắc tím man mác buồn dự báo về những cơn mưa rông dài, những cơn bão tìm về đất liền để quăng quật và tan biến. Làng ở đó, vẫn lấy mực nước khe Rò để dự báo lũ. Tôi ở đây, nương vào làn gió thu thiu thắt để nhớ về lũ quê mà cay xè, đau đáu…

Trang Thụy

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.