Cao Bá Quát - Đứng về phe "dưới đáy"!

Tài năng và vốn sống như hai cánh để con chim đại bàng thi nhân bay cao bay xa vào bầu trời văn hóa. Với trường hợp đời thơ và tài thơ Chu Thần Cao Bá Quát (1808 - 1855) thì điều đó như là một minh chứng nổi bật.

  • Cao Bá Quát: Cảm thức hoa mai
  • Cao Bá Quát - Danh sĩ bất phùng thời

Ông là tác giả của khoảng một nghìn ba trăm bài thơ chủ yếu là thơ chữ Hán (ngoài ra còn thơ chữ Nôm, phú, ca trù, văn xuôi truyền kỳ) được tập hợp lại thành 4 tập đồ sộ: "Cao Bá Quát thi tập", "Cao Chu Thần di cảo", "Cao Chu Thần thi tập", "Mẫn Hiên thi tập". Nhắc đến nhà thơ lớn này người ta nghĩ ngay đến một quan niệm độc đáo thể hiện ở câu thơ bất hủ: "Thập tải luân giao cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa" (Mười năm rong ruổi tìm gươm báu/ Một đời chỉ cúi lạy hoa mai).

Những sáng tác của anh hùng - thi sĩ ấy toát lên một tuyên ngôn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 văn thơ phải như kiếm sắc ngăn trừ cái xấu để cho đời chỉ còn những nụ hoa mai! "Hoa mai" biểu trưng cho tấm lòng thanh khiết, trung nghĩa, cho lý tưởng cao cả của người quân tử, cũng còn là biểu trưng cho cái đẹp. Tức Cao Bá Quát không chịu cúi đầu trước cả vua, trước cả bạo lực, cường quyền, danh vọng…

c7otrsmidlp4qepwbeni1nczyooqtnedyz3wdnhk.jpeg -0
Hình ảnh Cao Bá Quát làm thơ.

Ông là người đọc rộng biết nhiều, từng khẳng định có phần ngạo nghễ rằng thiên hạ có ba bồ sách thì mình đã chiếm một. Rất thông minh, sắc sảo, chữ đẹp, văn hay, đã từng đi thi nhưng trượt lên trượt xuống, chỉ đậu cử nhân rồi trượt kỳ thi hội. Từng làm quan nhưng lên xuống thất thường, từng vào tù ra tội bị đòn roi, bị đi đày,... Thuở hàn vi sống cùng "dân đen" nên Cao Bá Quát thấu hiểu tình cảnh cơ cực cũng như khát vọng cháy bỏng của những phận người "dưới đáy". Những điều ấy lý giải hành động Cao Bá Quát cùng "dân đen" vùng lên chống lại triều đình rồi thất bại như là lẽ đương nhiên.

Lịch sử khẳng định Cao Bá Quát là lãnh tụ khởi nghĩa dám chống lại bất công cường quyền phản động. Cao Bá Quát chết nhưng tiếng thơ còn lại mãi với hậu thế. Tiếng cười trong thơ Cao Bá Quát còn lại mãi với lịch sử văn học như một trường hợp độc đáo, đặc biệt - một tiếng cười đầy cá tính không thành tiếng, bi phẫn, dữ dội, đau đớn, vật vã nén vào trong. ông cười mình, khinh mình vì mang tiếng là nhà Nho mà chẳng làm được gì "cho đời thái bình": "Thái bình vô nhất lược/ Lộc lộc sỉ vi nho - Không có cách gì làm cho đời thái bình/ Thẹn mình là nhà Nho lại tầm thường đến thế" (Đêm ngồi một mình)…

Nhưng qua cái tự trào này lại thấy ông vĩ đại ở khát vọng đem tài năng phụng sự cuộc đời, cụ thể là vì mục đích đem thái bình đến cho dân lành. Thế nên dễ hiểu Cao Bá Quát phủ nhận mình, tiếc cho mình: "Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt giũa câu văn/ Lải nhải nhai lại từng câu từng chữ/ Khác nào con sâu đo muốn đo cả đất trời" (Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của Đô sát họ Bùi). Ví mình như con sâu, giễu mình chỉ biết nhai văn nhá chữ chẳng có gì ghê gớm mới mẻ nhưng lại có tham vọng quá lớn "muốn đo cả đất trời". Văn nhân thời hiện đại mấy ai dám tự nhận mình như thế!?

Cao đã thật sự hiện đại khi quan niệm cuộc đời cao hơn văn chương: "Từ khi vượt bể qua đất Ba Sơn/ Mới cảm thấy vũ trụ là bao la/ Chuyện văn chương trước đấy thực là trò con trẻ/ Trong thế gian có ai thực là bậc tài/ Mà lại phí một đời đọc mấy pho sách cũ" (Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của Đô sát họ Bùi). Ở đây bật ra một quan niệm về quy luật nhận thức: phải trải nghiệm, đi nhiều, biết nhiều (từ khi vượt bể) mới thấy kiến thức là vô cùng (vũ trụ bao la), nhờ thế mới nhận thức chuyện văn chương chỉ là trò trẻ con nên những bậc tài năng tráng chí không nên mất thì giờ vào những điều đã cũ. Nghĩa là phải biết tìm tòi, sáng tạo. Nam Cao sau này nói "Sống đã rồi hãy viết!" không mới hơn Cao Bá Quát. Vĩ nhân thường đi trước thời đại là như thế chăng?

Nhìn từ phương diện chủ quan, để có tiếng cười thì người cười phải có một tấm lòng chuộng công bằng, tôn thờ chính nghĩa, yêu thương con người sâu sắc, có vậy mới làm cơ sở để tạo ra tiếng cười đủ mạnh một sức lên án, tố cáo, mỉa mai chế giễu cái ác, cái xấu… Điều kiện này thì Cao Bá Quát có thừa. Làm tiền đề cho một nhân cách lớn là tâm hồn nhạy cảm, giàu trắc ẩn. Nhìn thấy "chú bé chăn bọ ngựa" (tên một bài thơ), ông thấy đau xót và liên tưởng: "Buộc nó bằng sợi dây/ Sợi dây quấn chằng chịt/ Nó chết trên cành cây/ Người dắt dân ta hỡi!/ Xét kĩ trên lông mày". Thơ ông đầy trăn trở: "Bất tri lai nhật thử hoặc hàn?/ Như hà cửu toạ linh tâm to - Nào ai biết ngày mai nóng hay rét?/ Sao cứ ngồi đây mãi cho lòng xót xa" (Bài hành hôm nay). Cả bài thơ nói chuyện thời tiết đang trời lạnh gió buốt thế mà lại chuyển nóng như thiêu. Dĩ nhiên không phải là nói chuyện thời tiết mà là nói tới sự ấm lạnh của cuộc đời, sự thay đổi đến chóng mặt của thời cuộc điên đảo.

image002.jpg -0
Mười năm rong ruổi tìm gươm báu/ Một đời chỉ cúi lạy hoa mai - (thơ Cao Bá Quát)

Hầu như bài thơ nào, chi tiết nào nói về nỗi khổ của dân đen Cao Bá Quát cũng liên hệ tới kẻ cầm quyền để phê phán thói vô trách nhiệm, sự tàn ác, phi nhân tính. Đây là lời một ông lão già sức cùng lực tận, không đủ sức để chạy trốn sự tàn bạo của Link Trang Chủ Nhà Cái OK9 Mới Đăng Ký +69K: "Ông không nghe ư?/ Năm nay ngày nào cũng bắt tráng/ Quan huyện là cha mẹ dân đã chẳng xét cho/ Nha lại còn đánh đập dân như chém tre/ Nhà xóm đằng đông nằm đấy chịu đói, nhà xóm tây dời đi nơi khác/ Những người còn chút hơi tàn chưa chết, mười phần chỉ còn một hai/ Nào lính, nào phu, nỗi khổ chưa qua/ Con bé, cháu nghèo đều bỏ đi hết/ Than ôi! Tôi đã già rồi/ - Lão vừa nói vừa chỉ tay vào bức tường đổ" (Ông già Phúc Lâm). Một bức tranh Ok9 cab trò chơi casino phổ biến đau đớn được vẽ bằng nước mắt!

Nhờ từng sống cùng nên Cao Bá Quát thấu hiểu và thấu cảm cảnh nghèo của những kẻ thấp cổ bé họng. Bài thơ "Khúc ngâm trong đêm lạnh" nói lên tình thương người của ông: "Rét quá không ngủ được/ Trở dậy chữa câu thơ/ Dầu hết gọi nhỏ rót/ Nhỏ nằm cứ ậm ừ/ Vội vàng đi lấy chiếu/ Đắp lên cho chú ta". "Nhỏ" ở đây là đứa bé đầy tớ còn Cao Bá Quát là "ông chủ", nhưng như ta thấy ông không phải là "ông chủ" mà như người cha nó. Sau thời gian "dương trình hiệu lực", ông về quê. Càng có thêm nhiều sự tiếp xúc với OK9giaitri đăng nhập khốn cùng của nhân dân, thấy những cảnh người dân vì túng thiếu đói rét phải đi xin ăn hay những cảnh bị bắt phu bắt lính... Cao Bá Quát càng đau xót. Nỗi cảm thương thể hiện thành con chữ ở các bài thơ đẫm nước mắt như "Cái tử" (Người ăn xin), "Phụ tương tử" (Người vác hòm), "Quan chẩn" (Xem phát chẩn)... Có một quy luật này, các đại thụ văn chương luôn có cái gốc rất vững chắc là tình thương yêu con người, nhất là với "dân đen"!

Trong bài thơ "Đối vũ", qua một ẩn dụ nhà thơ hỏi: "Mặt trời đỏ lẩn đi đằng nào?/ Để dân đen than thở mãi...". Hình tượng "mặt trời đỏ" là một ước mơ cháy bỏng không có trong thực tế nhưng qua đó cho thấy một khát vọng táo bạo vượt ra khỏi tầm thời đại ngột ngạt, bế tắc. Cao Bá Quát đã luôn đứng trên và vượt khỏi tầm thời đại mình và mâu thuẫn một cách gay gắt, triệt để, quyết liệt với thời đại ấy. Là nhà thơ của dân đen, bênh vực, thông cảm với dân đen mà ông dũng cảm vạch trần, phơi bày cái tàn bạo, thối nát của cường quyền.

Ngay trong con người ông cũng là một khối mâu thuẫn, là "con đẻ" của Nho học cũng là "con đẻ" của triều đình nên Cao Bá Quát hăm hở đi thi để làm quan với mong ước lấy tài năng giúp lập chính sự để dân đen đỡ khổ. Vì một tình thương yêu lớn với dân nên trong ông cứ dần dần một tư tưởng phản nghịch với chế độ phong kiến. Bắt đầu là việc chữa bài thi, xét đến cùng cũng là vì thương người và quý tài mà chữa. Rõ ràng cái thương cái quý ấy mạnh hơn bao nỗi sợ hãi và mạnh hơn cả cái chết vì nếu lộ sẽ bị trả giá bằng mạng sống. Sau này thành lãnh tụ khởi nghĩa, xét đến cùng cũng là vì niềm yêu thương dân đen và căm thù cái ác, cái xấu mà cụ thể là cái triều chính đáng ghét kia.

Một tài năng lớn, một nhân cách lớn, một ý chí lớn như Cao Bá Quát nên bất đắc chí với thời đại là đương nhiên. Ông mâu thuẫn với thời đại, chống lại cả thời đại của triều đình như là một tất yếu. "Sông dài như kiếm dựng trời xanh" không chỉ là một câu thơ tỏ chí mà còn là lý tưởng, là mơ ước và khát vọng, cũng là tuyên ngôn sống muốn "dựng" lại "trời xanh" thời đại!

Cùng một cuộc sống nghèo, cùng phong cách, cùng quan niệm, cùng một đối tượng thẩm mỹ là những thân phận dân đen, nhưng nỗi đau trong thơ Chu Thần có lẽ còn dữ dội, phẫn uất hơn cả Đỗ Phủ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.