Cái cày trên cánh đồng văn hóa!

Trong quan niệm cổ xưa thì đi cày là Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP thiêng liêng vì đó là sự khởi đầu của quá trình làm ruộng gian nan nhưng đầy hạnh phúc, có làm mới có ăn. Vì thế mà có lễ "Tịch điền".

  • Đa nghĩa biểu tượng cung tên!

Có câu nói cửa miệng của giới lao động, kể cả lao động chân tay lẫn trí óc là "đi cày". Rủ đi chơi nhưng bạn nói "Còn phải đi cày…". Gặp nhau hỏi "Hồi này cày cuốc khấm khá chứ?"… Ai cũng hiểu "đi cày" theo nghĩa bóng là đi Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9, như một sự bắt buộc. Đó là sự hắt bóng của cổ mẫu từ tận xa xưa về thời đương đại rồi ăn sâu vào tiềm thức con người, gặp hoàn cảnh phù hợp liền bật ra trong dạng ngôn ngữ. Sống trong vùng văn minh lúa nước thì người Việt nào cũng quen với hình ảnh cái cày: "Trên đồng cạn, dưới đồng sâu/ Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa"…

Trong quan niệm cổ xưa thì đi cày là Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP thiêng liêng vì đó là sự khởi đầu của quá trình làm ruộng gian nan nhưng đầy hạnh phúc, có làm mới có ăn. Vì thế mà có lễ "Tịch điền". Sách "Việt sử lược" ghi: "Năm Đinh Hợi, hiệu Thiên Trù, năm thứ 7 (987) vua bắt đầu cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn, được một lọ vàng bạc; cày ở núi Bà Hối được một lọ nữa, vua đặt tên đất đó là ruộng Kim Ngân". Vẫn theo sử sách thì Lê Hoàn là ông vua xứ Việt đầu tiên tiến hành lễ cày tịch điền, vừa thể hiện tính bình dân, gần dân vừa để khuyến khích lao động sản xuất.

image001.jpg -0
Minh họa chiếc cày Ai Cập cổ đại, khoảng 1.200 năm trước Công nguyên!

Thực ra lễ "tịch điền" có từ thuở xa xưa, thời Nghiêu Thuấn bên Trung Quốc rồi tiếp biến sang ta. Ban đầu nó chưa mang đầy đủ ý nghĩa như sau này mà mang nghĩa nguyên thủy của tín ngưỡng phồn thực sơ khai dưới dạng một hành vi mang tính thiêng cầu mong đất đai sinh nở. Cày luôn mang nét nghĩa khám phá, cắm sâu, lật xới rồi gieo hạt, nảy mầm, kết trái gần gũi với quá trình hôn nhân của con người với các hành vi tính giao, sinh con, nuôi dưỡng,… Vì lẽ này hai khái niệm "trồng cây" và "trồng người" trong triết học phương Đông rất gần nhau. Một con người thành đạt giỏi giang được ví như cây lớn (đại thụ). Ngôn ngữ phương Tây cũng tương tự. Hai chữ "văn hóa" (culture) được bắt nguồn từ chữ Latin "Cultus" có nghĩa gốc là gieo trồng, "Cultus Agri" là "gieo trồng ruộng đất", "Cultus Animi" là "gieo trồng tinh thần". Ngày nay triết học văn hóa vẫn ví von con người như cây xanh, phải trồng trọt, nâng niu, chăm bón…

Nhìn từ tín ngưỡng phồn thực có vẻ văn minh phương Đông đi trước phương Tây. Trong sử thi Ấn Độ, vợ của Rama là Sita, thì "sita" có nghĩa là luống cày (đất). Sita được sinh ra từ luống cày nhờ lưỡi cày (tức dương vật) lật đất lên. Lưỡi cày lại do thần Vishnu hóa thân… Trong hầu hết các nền văn hóa phương Đông thì chiếc cày gần gũi với nam tính (thuộc dương), luống cày gần gũi với nữ tính (thuộc âm). Có lẽ khái niệm "Đất Mẹ" gắn liền với sự sinh nở thoát thai từ quan niệm này. Có một hằng số chung ở nhiều nền văn hóa cổ cả phương Đông và phương Tây là "đi cày" đồng nghĩa với hành động gieo trồng và hành vi (làm cho) thụ thai!

Ở Trung Hoa cổ, các hoàng đế mới lên ngôi thường có nghi thức cày đường cày biểu trưng trên ruộng, ngoài các ý nghĩa khác, có một ý nghĩa chủ yếu là biểu hiện quyền lực làm chủ và sự chế ngự đất đai. Mà đất đai luôn là tài sản quý giá nhất. Sở hữu đất đai tức là sở hữu sức mạnh và tài sản. Ở ta hình thức các vua chúa phong kiến "cắt đất phong hầu" cho người có công cũng là hình thức ban cho quyền lực, tài sản.

Cái cày gồm lưỡi cày (sau này thường làm bằng gang); bắp cày bằng gỗ; gọng cày nối từ bắp cày đến vai cày (bằng gỗ hình tam giác) gác lên vai trâu, bò. Ở nhiều ngôn ngữ cái cày là biểu tượng mang tính thiêng hoặc thân mật, tùy hệ quy chiếu văn hóa mà được so sánh (gần giống) với cái gì to lớn, cao cả hoặc gần gũi.

Ví như chòm sao Bắc đẩu có 7 ngôi sao thì người nông dân làm ruộng Việt Nam nhìn nó là cái gầu tát nước, người Pháp nhìn nó giống như cỗ xe, người Mỹ nhìn nó giống cái thìa/muỗng, người Anh nhìn nó là cái cày. Người Anh quan niệm vậy vì tập quán canh tác cùng bạt ngàn đất đai rất cần đến chiếc cày và ngựa kéo. Họ quý cái cày, đến mức hiện nay những chiếc ghế băng trong Bảo tàng Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 Anh cũng mang hình chiếc lưỡi cày… Người Anh cũng có câu gần với ta: con ngựa đi trước cái cày theo sau.

Ở ta, cày bằng trâu nên có câu: "Lao xao gà gáy rạng ngày/ Vai vác cái cày, tay dắt con trâu/ Bước chân xuống cánh đồng sâu/ Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cày". Người Việt quen thuộc cái cày đến mức người ta sáng tạo ra câu chuyện ngụ ngôn "Đẽo cày giữa đường" làm bài học Ok986 tải ứng dụng. Ý nghĩa câu chuyện phổ quát rộng rãi đến mức cô lại trong một thành ngữ cùng tên để chỉ ai đó có hành động ngu ngốc, không chủ kiến, luôn bị động, chạy theo đuôi người khác, cuối cùng chẳng đạt được kết quả gì.

Lại quen thuộc đến mức lấy bộ phận quan trọng nhất của cái cày là lưỡi cày để chỉ bộ phận quan trọng nhất của người là khuôn mặt - Mặt lưỡi cày, để chỉ khuôn mặt thô kệch, gãy, sắc cạnh. Ngày nay y học tìm ra nguyên nhân là khi phần xương hàm dưới phát triển quá mạnh, đẩy nhiều về phía trước khiến phần xương hàm trên không khớp chặt khít với xương hàm dưới, phẫu thuật thẩm mỹ hoàn toàn chỉnh lại bình thường.

image003.jpg -1
Lưỡi cày cổ tìm thấy ở Cổ Loa (1982) giống lá chìa vôi.

Ngụ ngôn La Phông ten có câu chuyện "Hai lưỡi cày" để giáo huấn con người phải siêng năng Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9, chỉ nhờ chăm chỉ lao động mới tốt đẹp sáng láng được. Ông nông dân nọ có hai cái lưỡi cày để thay phiên Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9. Ông quên nên chỉ dùng một chiếc. Chiếc được dùng thì sáng loáng, chiếc bị quên thì đen thui, cáu bẩn. Khi ông nhớ ra đem đi Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 thì nó lại sáng bóng như thường.

Ở ta có thành ngữ tương tự: "Dao có làm mới sắc". Thì ra ở đâu con người cũng ca ngợi lao động cả. Xin nói thêm, cụ Nguyễn Khuyến trong bài thơ "Anh giả điếc" có câu thơ về đi cày: "Trong thiên hạ có anh giả điếc/ Khéo ngơ ngơ ngác ngác, ngỡ là ngây!/ Chẳng ai ngờ "sáng tai họ, điếc tai cày"… Người đi cày khi hô "họ" tức ra lệnh trâu dừng lại, "sáng tai họ" là để chỉ những anh khôn lỏi, lười lao động, chỉ thích nghỉ ngơi chơi bời.

Tại sao ở ta lại gọi cày chìa vôi? Đó là cái cày truyền thống, không có bộ phận "guốc" dưới lưỡi cày để giữ thăng bằng nên cày đất lật ra hai bên. Năm 1951 nông dân ta cải tiến lắp thêm "guốc" vừa giữ thăng bằng khi cày, đất lại lật về một bên, thẳng tắp. Người ta liền đặt tên cho loại cày mới là cày 51. Có hai ý kiến giải thích về "cày chìa vôi". Một là, căn cứ vào câu ca dao cổ: "Cố công đẽo một cái cày/ Đẽo được ba ngày, ra chiếc chìa vôi" thì lưỡi cày giống cái "chìa vôi" (dụng cụ làm bằng gỗ mũi hình tam giác dùng để lấy vôi từ trong bình ra để ăn trầu). Hai là, lưỡi cày xa xưa của cha ông ta dùng giống lá chìa vôi, một loại cây thuốc dân gian gần gũi, quen thuộc chữa nhiều loại bệnh. Vẫn chưa thấy ý kiến nào đúng hơn.

Cày lên những đường cày văn hóa trong văn học dân gian nhưng đến thời hiện đại, do cuộc sống thay đổi nhanh chóng nên chiếc cày ít được coi như một chất liệu Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Trong văn học trước 1975 có hình tượng "đường cày ba đảm đang" ca ngợi các nữ dân quân vừa cày ruộng vừa bắn máy bay giặc. Sau 1975, vì Ok986.com Việt Nam Casino, Nổ Hũ được hiện đại hóa, ít cày bằng trâu mà cày máy nên không hấp dẫn các tác giả văn chương. Nhưng mượn chiếc lưỡi cày làm thi liệu thì vẫn còn, và vẫn hay.

Nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ có một triết lý về nỗi đau và hạnh phúc - một nét phong cách đối cực trong thi pháp thơ chị: "Ôi trái tim/ Sao em lại mang dáng lưỡi cày/ Để suốt đời không bao giờ yên ổn/ Để suốt đời cày lên/ Cày lên/ Đớn đau và hạnh phúc..." (Nói với trái tim) làm ngỡ ngàng nhiều người bởi tính hàm súc sâu xa của biểu tượng. Nhà thơ Võ Văn Vinh trong tập thơ "Biển và cây xương rồng" (Giải thưởng Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Hồ Xuân Hương lần thứ VI, 2015 - 2020) có câu thơ lóe sáng: "Lưỡi cày vỡ nắng mặt trời/ Nắng chang chang nắng rợn người tháng năm" (Cày đêm). Chỉ một câu "Lưỡi cày vỡ nắng mặt trời" đủ cho thấy phẩm chất thi sĩ của tác giả.

Gần đây tập thơ "10 ngón thu" của Võ Văn Luyến (NXB Hội Nhà văn Việt Nam, 2023) có câu tả về cái gian khó miền Trung rất gợi: "Hết nắng cháy lại mưa dầm/ miền Trung nhẫn chịu âm thầm bấy nay/ mùa đông lạnh cả lưỡi cày/ xâu tươi lộc biếc còn đầy trân cam" (Cơn mưa nhắc nỗi nhớ người). Vốn bằng kim loại đã lạnh, thế mà cái lạnh mùa đông còn ngấm cả vào làm lưỡi cày dường như lạnh thêm. Phải có sự khám phá tinh tế, quen với nghề làm ruộng, nhất là từng thấm thía cái lạnh miền Trung mới có cảm nhận ấy! 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.