Nhân đọc tiểu thuyết “Bửu sơn kỳ hương”, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam của nhà văn Lý Lan - NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2022

Bửu sơn kỳ hương - Mã gen truyện kể trên vùng đất Lục Châu

Cái tên Lý Lan không còn xa lạ với công chúng văn học Việt Nam. Bà là một nhà văn đã thành danh với những tác phẩm như “Ngôi nhà trong cỏ” (1984, Giải thưởng Văn học thiếu nhi), “Là mình” (2005, Giải thưởng Thơ - Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh), “Tiểu thuyết đàn bà” (2008, Giải thưởng Tiểu thuyết - Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh)...

  • Dịch giả Nguyễn Xuân Hồng: Dịch thuật là mối "lương duyên"!
  • Dịch giả Pháp ngữ Nguyễn Hữu Vỹ: Đam mê văn chương không bao giờ là muộn

Cái tên Lý Lan không còn xa lạ với công chúng văn học Việt Nam. Bà là một nhà văn đã thành danh với những tác phẩm như “Ngôi nhà trong cỏ” (1984, Giải thưởng Văn học thiếu nhi), “Là mình” (2005, Giải thưởng Thơ - Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh), “Tiểu thuyết đàn bà” (2008, Giải thưởng Tiểu thuyết - Hội Nhà văn Tp Hồ Chí Minh), “Chút lãng mạn trong mưa” (Tập truyện ngắn, 1987), “Đất khách” (Tập truyện ngắn, 1995), “Một góc phố Tàu” (Tập truyện - ký, 2001), “Người đàn bà kể chuyện” (Tập truyện ngắn, 2006), “Miên man trong mưa” (Tùy bút, 2007), “Từ Dòn Mé Sán đến…” (Tùy bút, 2014). Lý Lan còn được biết đến trong vai trò dịch giả của bộ tác phẩm “Harry Potter”.

ảnh 2 - nhà văn lý lan.jpg -1
Nhà văn Lý Lan.

Tiểu thuyết “Bửu sơn kỳ hương” xuất bản lần này (2022) đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn với số phiếu bình chọn tuyệt đối (11/11 thành viên Hội đồng chung khảo tán thành) đã phần nào nói lên độ thuyết phục của tác phẩm. Từ một người đọc, hoàn toàn không tham chiếu các quan điểm của Hội đồng sơ khảo - chung khảo, không được tiếp cận đầy đủ các tác phẩm tham dự xét giải, nhưng tôi vẫn nhận thấy, việc trao giải cho “Bửu sơn kỳ hương” là có cơ sở. Cơ sở này đặt trên niềm tin rằng các hội đồng đánh giá từ sơ đến chung đã làm tốt phần việc của mình.

“Bửu sơn kỳ hương” viết về lịch sử vùng đất Lục Châu (Nam bộ) giai đoạn cuối thế kỉ XIX, thông qua biến cố của gia đình họ Huỳnh (Phước Xuân Đường) cùng những người có liên quan tạo nên thời gian - không gian truyện kể vừa rất cụ thể vừa khá dài rộng, bao quát. Đây có lẽ là điểm thuyết phục đầu tiên khi ở đó chúng ta nhận ra quan niệm về tiểu thuyết của tác giả, nhất là tiểu thuyết lịch sử.

Rõ ràng, biến cố của thân phận cá nhân hay một gia đình, một dòng họ đã là hạt nhân của câu chuyện, tỏa ra những mạch nhánh liên kết, dẫn người đọc đến câu chuyện lớn hơn về lịch sử, thời đại, vùng đất hay đức tin, tôn giáo… Cách nhìn này không đặt người đọc vào một đại tự sự có tính chất sử thi vốn hay xuất hiện trong những tạo dựng mang tầm vóc thời đại. Nói cách khác, tiểu thuyết bắt đầu bằng thân phận con người đời thường, soi thời đại qua/ từ cá nhân, gia đình. Giải bỏ áp lực sử thi, xác lập điểm nhìn từ bên dưới, từ các tiểu tự sự, vi lịch sử với tinh thần thế tục hóa, dân sự hóa là điểm cộng cho “Bửu sơn kỳ hương” (Điều này ta sẽ bắt gặp trong các tiểu thuyết thành công trước đó như “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh, “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh,…).

Xem xét cấu trúc tự sự này, người đọc sẽ bắt đầu với câu chuyện của gia đình họ Huỳnh (Huỳnh Ứng Xương, Huỳnh Tế Xương, Huỳnh Vĩnh Xương) và hiệu thuốc Phước Xuân Đường, theo đó mà lan tới thân bằng cố hữu, thâm sơ (Ông Hòa, Ông Thiềm, Chị Hai, Bình, Thành, Thầy Tỉnh, Người đàn bà bán khoai, Hà Bá Long, Tấn, Tuấn, Ông bà Tứ, Cố Từ…). Mạch chuyện sẽ không dừng lại khi từ biến cố cá nhân - gia đình bắt đầu thấm vào những sự kiện - nhân vật có tính chất lịch sử - thời đại - tôn giáo - văn hóa - lãnh thổ - quốc gia (Lê Văn Khôi, Phan Thanh Giản, Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Tri Phương, Tây Sơn, Nhà Nguyễn, Pháp, Phật Giáo, Thiên Chúa giáo, Chữ Hán, Chữ Nôm, Chữ Quốc ngữ, Tiếng Pháp, Tân thư, Bắc Hà, Huế, Lục tỉnh, Quảng Châu, Tân Gia Ba, Penang…).

Trên một nền tảng có thể dẫn dắt hư cấu, ta thấy bóng dáng những nhân vật như Đoàn Minh Huyên (Phật Thầy Tây An – Sáng lập Đạo Bửu Sơn Kì Hương), Quản cơ Trần Văn Thành (Thủ lĩnh Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa), thậm chí thấp thoáng Nguyễn Đình Chiểu hay Trương Vĩnh Ký… Người đọc, tùy vào tri thức cá nhân mà tiếp nhận câu chuyện của Lý Lan, để từ đó hình thành một cấu trúc tự sự của riêng mình.

ảnh 1 - bửu sơn kỳ hương.jpg -0
Bìa tiểu thuyết “Bửu sơn kỳ hương” của nhà văn Lý Lan (Giải thưởng Hội Nhà văn, 2022).

“Bửu sơn kỳ hương” hấp dẫn về chuyện. Điều đó được thể hiện ngay từ đầu tác phẩm bằng việc tạo dựng không khí có tính huyền bí về vùng đất và nhân vật. Có thể nói, đây là điểm thành công đáng kể khi Lý Lan đã giữ người đọc ở lại với từng trang viết, từng chi tiết, sự kiện. Lớp màn huyền bí bao quanh nhân vật người núi – Phật Thầy quả đã phát huy tác dụng kích thích trí tò mò của người đọc để từ đó lớp lang của chuyện được khai diễn.

Đuổi theo sự kiện để biết kết cục của nhân vật vốn là sức mạnh của lối tự sự kinh điển (kể cái gì?). Đây là điều Lý Lan đã làm rất tốt trong một tiết điệu chậm rãi, chắc chắn, mạch lạc. Dẫu có đôi lần ngoảnh lại để quá khứ chồng lên hiện tại, nhưng mạch chính của chuyện vẫn theo trật tự thời gian tuyến tính gắn với quá trình: “Gặp nhau, quen nhau, ơn nhau, rồi lạc nhau, tìm nhau, gặp nhau, rồi lại lạc nhau, lại tìm nhau…” (tr. 219). Gió bụi của thời cuộc thổi suốt chiều dài tác phẩm làm nên “vòng xoắn vô tận những hợp tan…”. Tâm thức lưu dân và kí ức lịch sử vùng đất (từ thời mở cõi) cứ chùng chình ẩn hiện, tạo thành không khí truyện kể rất đặc trưng. Điểm này không dễ nhận ra nếu chỉ mải mê theo đuổi sự kiện, nhân vật.

Ngôn ngữ kể không cầu kì mà chân chất, thật thà, nhiều phương ngữ gắn với lời ăn tiếng nói, trang phục, sinh hoạt hàng ngày của cư dân vùng sông nước Lục Châu đã góp phần đắc lực vào việc tạo dựng bầu khí quyển này. Rõ ràng, sự thành công trong việc tạo dựng tính hợp lí của ngôn ngữ kể với câu chuyện, nhân vật, vùng đất… đã cho thấy Lý Lan biết rất rõ vấn đề của câu hỏi: kể như thế nào? Không thể mang ngôn ngữ quá hiện đại, lối tư duy siêu hình hay những cung cách biểu hiện xa lạ cầu kì đặt vào nhân vật, vốn là những kiếp người bé nhỏ, dạt trôi giữa thời loạn lạc này được. Nhân vật của Lý Lan mang mã gen (nhân vật hành động) từ lối viết của Nguyễn Đình Chiểu hay Hồ Biểu Chánh với vẻ dân dã thực thà rất Nam bộ.

Tư tưởng cốt lõi của “Bửu sơn kỳ hương” là đức tin và lòng yêu thương. Đó là thứ “Kì Hương” được gìn giữ trong cơn dâu bể. Không nặng nề đao to búa lớn với những trường đoạn độc thoại, triết lí; mở lòng mình ra cảm nhận những cuộc đời bèo nước hợp tan trên xứ sở này, mới hay rằng, tư tưởng nằm trong những điều thật bình dị, lắm khi không được nói ra (giống như là năng lượng cảm hóa, chữa lành, định tâm tỏa ra từ sự im lặng, bình thản của Phật Thầy).

Sẽ có người chưa hài lòng với “Bửu Sơn Kỳ Hương”. Chắc chắn là thế. Bản thân người viết bài này, cũng cảm nhận đôi chỗ chưa được. Ví như, những chi tiết hợp tan đôi khi hơi sắp đặt và gượng ép. Nhân vật tỏ ra bị tác giả thao túng khi không dám lên tiếng, không nói ra những câu chuyện mà rất dễ từ đó người ta tìm thấy nhau một cách đỡ nhọc nhằn hơn (Câu chuyện của ông Thiềm với Bình - tr.231 - 232). Có những chi tiết không cần - không nên, như cuộc trò chuyện của Vĩnh Xương và Phật Thầy. Đây là lần duy nhất Phật Thầy bị tước đi lớp màn huyền bí để được gọi bằng một cái tên (Hưng - do Vĩnh Xương tự đặt). Giá thử, cứ để Phật Thầy trong lớp sương huyền bí ấy nói chuyện với Vĩnh Xương, tính chỉnh thể của hình tượng sẽ được duy trì, thậm chí là gia tăng (tr.123 - 124).

Có những đòi hỏi khác, chờ đợi khác mà ta biết rằng rất khó để Lý Lan có thể đáp ứng, ví như một cấu trúc tự sự đa tầng hơn, sâu hơn cùng kĩ thuật viết phức tạp hơn nữa, nhằm mang đến khoái cảm thưởng thức cho người đọc (không chỉ là chuyện mà còn là văn chương, chữ - nghĩa). Tuy nhiên, như đã nói, mã gen truyện kể định hình trên sông nước Lục Châu tự nó tìm đến lối viết, lối kể bình dị này. Trật ra khỏi thổ nhưỡng, khí quyển ấy, có khi “Bửu sơn kỳ hương” lại trở thành làm dáng một cách nông nổi.

Nguyễn Thanh Tâm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.