Đọc “Ngỗng trời kêu xa xứ” của Vũ Quần Phương, NXB Hội Nhà văn, 2023

Bút đang cầm, thơ đang xuống câu

Ở tuổi quá bát thập mấy nấc, nhà thơ Vũ Quần Phương công bố “Ngỗng trời kêu xa xứ”, như để gửi gắm một thông điệp rất lạ, rất đáng để giải mã trong thơ. Ngay từ “Ngỗng trời” - một bài thơ gợi ý cho việc đặt tên tập thơ - đã xuất hiện hai câu thơ như là sự mở đầu đáng lưu ý:

  • Cõi thơ của nhà thơ Dương Kỳ Anh
  • Nhà thơ Kiều Maily, hành hương về nguồn cội

Con ngỗng trời di trú
kêu tiếng hồn xa xứ...

Tứ của bài thơ bắt đầu từ đây, từ hai câu thơ này, gói trọn trong hai câu thơ này. Một xuất phát không thể thay thế, không thể xác đáng hơn, không thể tuyệt vời hơn. Sự đáng lưu ý tập trung vào năm từ: “Kêu tiếng hồn xa xứ”. Chắc chắn, khi “tiếng hồn xa xứ” mà “kêu” qua “con ngỗng trời di trú”, thì rất dễ lay động, rung động lòng người cùng chung cảnh ngộ.

Bút đang cầm, thơ đang xuống câu -1
Nhà thơ Vũ Quần Phương.

Từ một xuất phát như thế tất phải dẫn đến một kết cục gần như là một câu hỏi có phần ngậm ngùi, tiếc nuối chính bản thân mình:

tiếng ngỗng vang trong màu mây năm trước
hay tiếng vọng
nơi lòng ta đã xa.

Giữa ba câu đầu và ba câu cuối là sự liên hệ, kết nối đến thân phận con người, đến sự ngẫm ngợi của tuổi già: “Tuổi nhỏ lòng theo đi bao la/ tuổi già ngồi lặng phắc”, “Tiếng ngỗng trời trở lại hôm nay/ trời vẫn xanh ngăn ngắt/ chỉ ta thì bạc tóc”.

Cách nay đã lâu, nhà thơ Nguyễn Khuyến từng viết “Thu vịnh”. Ông lưu lại cho hậu thế hai câu thật hay, mang màu sắc của tâm trạng:

Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Cảnh vật thì vẫn vậy, thiên nhiên thì vẫn vậy, không khác gì năm ngoái. Chỉ có khác là tác giả bất chợt gặp tiếng ngỗng kêu. Rồi tác giả nghe “một tiếng trên không” và bật ra câu hỏi “ngỗng nước nào?”. Vậy là nhà thơ của chúng ta vẫn hướng ra ngoài mà hỏi. Giữa Nguyễn Khuyến và con ngỗng, dầu sao vẫn là hai. Còn Vũ Quần Phương thì khác. Ông nhập vào “con ngỗng trời di trú”, hướng vào trong mà “kêu tiếng hồn xa xứ”. Giữa Vũ Quần Phương và con ngỗng, chỉ là một.

Sự ngẫm ngợi của tuổi già còn không ngừng được tiếp nối, không ngừng được biểu hiện qua nhiều bài thơ khác, theo những cách khác nhau. Có thể tạm thống kê: “Mỗi buổi sáng đời người/ muốn reo to lại muốn ngồi lặng im” (Gió xuân cao nguyên đá), “Mình trò chuyện với mình/ không tiếng” (Có ngôi sao dậy sớm), “Một trơ trọi mình và năm tháng” (Những mái nhà), “Tóc cũng êm ru mà bạc trên đầu” (Hải âu), “Mái tóc bạc có còn được bạc ở quê hương” (Xứ người), “Nước mắt mặn và chuyện đời cay đắng/ đã chín dần thành múi ngọt hương bay” (Cam canh Lục Ngạn) ... Và đi sau câu: “Một trơ trọi mình và năm tháng” là những câu thơ tài tình, đầy phát hiện: “Năm tháng lớp nên nhà/ phiêu bạt hóa quê hương”. Và sự ngẫm ngợi của tuổi già như được bộc lộ hết chiều kích qua “Trên cao trăng lẻ”: “Đêm lạnh trăng cao/ Càng cao càng lạnh/ Càng lạnh càng ngân nga” và “vầng trăng lẻ/ bên trời/ sáng quắc/ hơi lạnh thấm vào không gian tê buốt/ một mình soi”.

Đó là sự trải nghiệm sâu sắc, có phần đặc hữu của tuổi già mà không phải bất kỳ người tuổi già nào cũng có được, ngộ ra được. Bất chợt nghĩ thế và viết ra như thế, hốt nhiên mà nghĩ thế và viết ra như thế! Ở đây, một mình có phần nặng đồng cân hơn cô đơn. Thiết tưởng cũng cần phân biệt: Một mình với cô đơn. Nói cách khác, không nên đánh đồng hoặc đồng nhất một mình với cô đơn. Trong khi người cô đơn vẫn cần một ai đó, thì người một mình thường không cần ai cả. Một người một mình là một người có bản lĩnh, luôn tự tin, tự chủ. Một mình luôn được đánh giá cao hơn cô đơn là vì thế, là bởi thế! Cho nên, có người coi thơ là chứng ngộ của tâm hồn của một mình, cũng là điều có thể chia sẻ được.

Bên cạnh “Ngỗng trời”, “Chè sen” là một tứ thơ lạ với: “Chỉ biết rằng hoa thác/ thì chè thành hương bay”. “Không đề” và “Hiện vật” cũng vậy. Nhưng “Không đề” và “Hiện vật” thành công nhờ sự thông minh và nhấn nháy ở nghĩa chữ. Còn khi đọc “Dấu bàn chân Phật”, người đọc không thể quên: “Mẹ đã vào tịch mịch/ dấu chân còn lầm than”. Tương tự như thế, ta có thể tìm ra những câu thơ khác cũng thật đáng nhớ. Đó là “Chuông Thiền nghe lạnh ngắt/ người Thiền ngồi ngây ngô” (Phật về đâu?), “Trong sương, Người tạo Chúa/ rồi người thành nhân gian” (Sớm mai sương phủ), “Ông bồng cháu trên tay/ tay ông thành xứ sở” (Lặng im ru cháu), “Sáng nay khói lả trên mái bếp/ xem chừng bịn rịn với hương đêm” (Gió xuân trên cao nguyên đá), “Mái đình thơm ngói thì tâm sự/ Với một nguồn hương xa, tít xa” (Mùa hoa bưởi), “Năm tháng là ý nghĩ của ta thôi/ chỉ giấc mơ là thực trong đời” (Chiều mưa ấy), “Giờ lượn xe êm giữa đỉnh trời/ nhìn lại con đường ứa nước mắt/ đất đá/ người ơi, xương máu ơi” (Mã Pì Lèng)... Riêng “Gió xuân cao nguyên đá” có thêm một liên tưởng lạ kiểu Vũ Quần Phương: “Ao chuôm nở giữa cao nguyên đá/ thì đá thành hoa súng hoa sen/ đồng tam giác mạch ôm vai núi/ thành giải khăn choàng trên áo em”.

Bút đang cầm, thơ đang xuống câu -0
Bìa tập thơ mới của nhà thơ Vũ Quần Phương.

Tôi đặc biệt nể và trọng Vũ Quần Phương qua “Chuyện với sinh phần”. Tứ thơ giản dị mà sâu sắc, tự nhiên mà khó viết và không phải ai cũng có thể viết được. Đây gần như là lời trò chuyện với một ngôi mộ chờ của một đời người, ở cái “Nơi không nói/ chỉ nghe/ nghe không nghe/ chỉ biết/ đám mây bay soi lòng hồ ký ức” và một giả định gần như là tất yếu nếu diễn ra: “Nếu phải thế/ ừ thì cứ thế/ bút đang cầm, thơ đang xuống câu/ thì cứ xuống/ có gì phải vội”. Bài thơ có một cái kết bất ngờ, không theo một trật tự nào, một logic nào, ngoài sức tưởng tượng, biến những điều phiền muộn thành không phiền muộn, âu lo thành không âu lo, như thể nhận thức sinh - lão - bệnh - tử là tất yếu và một khi nhận thức được tất yếu tức là tự do:

Mây bay gió thổi ... không lường được
thì ta là nền xanh trên cao
là cỏ đang tràn trề mặt đất
là nắng sớm đang vàng phơi ngọc dát...

Viết đến đây, tôi chợt nhớ lời dạy của Osho - nhà huyền môn - bậc thầy tâm linh người Ấn Độ (1931 - 1990): “Đừng nghĩ mình đang chờ chết. Hãy nghĩ mình đang sống và còn sống”. Đây là một cách nghĩ có ảnh hưởng tốt cho những ai sớm nghĩ về cái chết. Rõ ràng, đang sống và còn sống, tích cực hơn đang chờ chết.

Có lúc, Vũ Quần Phương gọi ra thân phận người, kể cả thân phận các quan đại thần thời Nguyễn qua “Dãy tượng đá trước lăng vua Khải Định”:

Mà nghĩ cũng thương các đại thần ơi
thân vinh hiển chầu vua... thành đá cả
đá gương mặt, đá tấm lòng, nếp cờ bay cũng đá
một lần chầu kiếp kiếp phải khom lưng...

Có lúc, Vũ Quần Phương chỉ ra cái bi kịch hết thời và đáng thương na ná dạng “những người muôn năm cũ” đầy ẩn ý qua “Rạp tuồng”:

Võng lọng vàng son mòn rách cả
Đường Thành, Ngõ Trạm lá me bay
Võ Tòng đả hổ thôi không diễn
tráng sĩ ngồi đan vỉ đập ruồi.

Có lúc, Vũ Quần Phương cảnh báo một thứ bệnh rất nặng, rất nguy hiểm, có tính Ok9 cab trò chơi casino phổ biến cao qua “Bệnh”:

Bệnh mà không biết bệnh
thì lây lan rất nhanh
bệnh không áo bệnh nhân
càng cần cứu gấp.
Tôi đọc bốn câu này và không khỏi giật mình.

Sinh thời, nhà thơ lớn họ Chế vốn là người nghiêm cẩn trong thơ, vậy mà có lúc ông cũng yếu lòng mà hạ bút: “Lòng ta không thể tham thiền được/ Mới thấy cô em đã muốn đời”. Cho nên, nếu Vũ Quần Phương viết những câu trong “Gió xuân cao nguyên đá” dưới đây, cũng là điều dễ hiểu:

Cô gái Dao Tiền lên dốc núi
váy áo làm con suối xôn xao
tôi mà như suối tôi ngừng chảy
cỏ sớm ven đường xanh ước ao.

Tính từ tuổi 71 (2011) đến tuổi 83 (2023), nhà thơ Vũ Quần Phương vẫn đều đặn cho ra đời 5 tác phẩm thơ, văn và phê bình, trong đó có 3 tập thơ mới: “Chân trời sau chân trời”, “Phía ngoài kia là rừng”, “Ngỗng trời kêu xa xứ”. Điều đấy cho thấy Vũ Quần Phương vẫn trường sức, vẫn góc cạnh, vẫn mới mẻ trong thơ. Ông viết như không biết đến tuổi già. Ông vẫn đi tìm “tiếng hồn” nhằm thỏa mãn “cơn đói tâm hồn” của riêng ông, để sống và viết, để đi và viết một cách say mê và thuyết phục. Dường như với ông, lúc nào “bút” cũng “đang cầm” và “thơ” cũng “đang xuống câu”.

Phố Khuất Duy Tiến, đêm mồng 4 Tết Giáp Dần

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.