Bờ sông sóng phố

Từ xa xưa ai cũng gọi đường Trần Nhật Duật là phố “Bờ sông”. Đường phố được hình thành dọc đê sông Hồng dài 800 mét, rộng 30 mét (từ phố Hàng Đậu tới Hàng Thùng).

  • Rỡ ràng sắc phố chợ vui

Đường Trần Nhật Duật bao trọn khu “Kẻ chợ Thăng Long” cổ kính về phía đông bắc chạy qua ba phường Hàng Buồm, Đồng Xuân và Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm). Đây là đầu mối Ok987 hiện đang mở phố cổ lớn nhất Hà Nội khi đường Trần Nhật Duật nằm trên quốc lộ dẫn tới các cây cầu lớn bắc qua sông Hồng.

Phố của những bến sông và cửa ô xưa

Một thời tôi quen thân với họa sĩ Vân Thuyết ở số 46 Trần Nhật Duật nên hay tới đây xem tranh của anh. Ngôi nhà nhỏ của họa sĩ ngay mặt phố luôn ầm ầm tàu xe qua lại. Chung quanh các gia đình đều buôn bán làm ăn túi bụi suốt ngày đêm. Họa sĩ Vân Thuyết kể, nhiều nhà trên phố làm nghề kẻ biển số xe ô tô và xe máy đã lâu đời vì xưa gần bãi Cột cờ (tại ngã tư cuối phố Trần Nhật Duật) là bến xe khách và tàu thủy nhộn nhịp. Còn phía trên đầu phố có bến Nứa cũng là nơi đậu tàu xe đi các tỉnh.

Bờ sông sóng phố -1
Cầu Long Biên.

Anh cho biết, xưa chưa có đê, nước sông Hồng chảy vào tận bến thuyền ngay đầu phố. Điển hình nhất là bến Đò Ngang (phố Chợ Gạo) gần cửa Ô Quan Chưởng. Thuyền cập bến ở đây chở gạo qua sông Tô Lịch tới Cầu Đông (bên phố Hàng Đường). Phía trên còn có bến Hàng Nâu thuộc phố Hàng Nâu cũ (tính từ phố Gầm Cầu tới Ô Quan Chưởng). Dân thương hồ cất củ nâu, trầu vỏ và các loại hàng hạt đậu đỗ lạc đưa vào phố Hàng Đậu, Hàng Khoai. Còn phía dưới bến Đò Ngang có các bến Hàng Mắm, Hàng Chĩnh, Hàng Muối, Hàng Tre… Dọc đường Trần Nhật Duật có tới 6 bến sông 6 cửa ô vào phố. Về sau nước sông Hồng đổi dòng vì phù sa bồi đắp nên các bến bãi đều bị lấp để làm đường, xây nhà lập phố (từ năm 1888).

Những dấu tích các bến sông cùng cửa ô chỉ còn lại di sản Ô Quan Chưởng. Bên cạnh đó, phố Chợ Gạo chia làm hai nhánh chính là hình ảnh cửa sông Tô Lịch chảy qua thành phố. Nhà thơ Phan Vũ đã có lần cảm tác: “Em ơi! Hà Nội phố/ Ta còn em con đê lộng gió/ Dòng sông chảy mang hình phố/ Cô gái dựa lưng bên gốc me già”.

Sự biến động của dòng sông với thời gian cũng được nhà thơ chia sẻ cảm xúc bâng khuâng mỗi khi mùa nước về. Ông viết: “Ta còn em mùa nước đổ/ Sông Hồng mất tăm bãi Giữa/ Bè xuôi không ghé bến/ Con tàu nhổ neo về biển/ Hồi còi vọng/ Như một tiếng than dài/ Mùa này trăng vỡ trên sông” (Em ơi! Hà Nội-phố). Hồi đó nhà thơ Phan Vũ ở phố Hàng Bún (số 52) thường đi bộ lên đầu phố trên đường Yên Phụ (nối liền phố Bờ Sông). Bản trường ca “Em ơi! Hà Nội phố” đã được ông viết trong 12 ngày đêm giặc Mỹ bắn phá Hà Nội và dội bom B52 xuống phố Khâm Thiên (12/1972).

Chính quá trình hình thành con đường trên các bến sông, cửa ô mà phố Trần Nhật Duật cắt nhiều đường đi vào khu phố cổ. Họa sĩ Vân Thuyết cho hay, nếu tính từ phố Hàng Đậu cho tới Hàng Thùng thì phố có tới 10 lối rẽ vào chợ các phố Hàng. Những con đường quanh quanh phố xá vẫn còn lưu giữ hình ảnh Thăng Long ngày nào: “Nghìn thu gặp hội thái bình/ Trải xem phong cảnh khắp thành Thăng Long/ Phố ngoài bao bọc thành trong/ Cửa Nam, Giám, Bắc, Tây, Đông rõ ràng…” (Hà Nôi băm sáu phố phường).

Nhưng có điều bất ngờ đối với tôi khi họa sĩ kể, xã Nguyên Khiết (một trong hai vùng đất thuộc phố Trần Nhật Duật) chính là quê của nhà văn Nguyễn Cấp, người đã viết truyện thơ Nôm “Quan âm Thị Kính”, bản in vào thời vua Tự Đức (1868). Nhà văn Nguyễn Cấp đỗ Giải Nguyên (1813) được bổ làm quan và sau này nhận chức Tri phủ Thiên Trường (1829) thời Nguyễn. Theo trí nhớ của họa sĩ Vân Thuyết, ngôi nhà số 6 Trần Nhật Duật chính vốn là đất của đình làng Nguyên Khiết (còn có tên đình Hàng Nâu).

Phố hai cầu

Không ít họa sĩ đã tìm tới phố Trần Nhật Duật để vẽ tranh bởi lẽ đây là con đường độc đáo nhất Hà Nội khi có hai cầu bắc qua sông Hồng. Đầu phố gây dấu ấn kỳ thú bởi cây cầu Long Biên cổ kính và còm cõi bấy lâu nay. Một cây cầu có thời từng được xếp hạng thứ nhì trên thế giới (năm 1902) về kiến trúc hiện đại và độ dài (2.290 mét kể cả cầu dẫn). Người dân Thủ đô hoan hỉ vui mừng vì cây cầu với hình ảnh “Rồng sắt” trên sông Hồng. Họ truyền tụng trong dân gian: “Hà Nội có cầu Long Biên/ Vừa dài vừa rộng bắc trên sông Hồng/ Tàu xe đi lại thong dong/ Người người đi lại gánh gồng ngược xuôi”.

Cây cầu Long Biên còn được ví von với hình ảnh “Tháp Eiffel” nằm ngang. Vẻ đẹp của biểu tượng cây cầu càng ngày càng thu hút du khách bấy lâu nay với nét cỗi già tàn phai theo thời gian. Những gióng sắt đan chéo cao vọi tạo đỉnh vòm cầu làm mê hoặc lòng người. Đó là những vòm trời hình tam giác đan chéo như cánh sao khổng lồ bay trên dòng sông cuồn cuộn phù sa. Nhất là sự đổ vỡ và chắp vá qua cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ cách đây hơn nửa thế kỷ cũng tạo nên những ẩn ức trong tâm cảm lòng người. Sắc màu già nua hoen rỉ vàng nâu hồn nhiên trên từng thanh sắt gây xúc động cho bất cứ ai dừng chân trên cầu.

Hàng triệu người đã từng gắn hình ảnh cây cầu hơn trăm năm này với kỷ niệm của đời mình khi dạo qua thành phố. Hơn chục nhịp cầu đã bị sập vì bom đạn. Những vẻ đẹp lộng lẫy xưa nay còn đâu sau khi phục hồi và tạo dựng lại. Chính vì thế cầu Long Biên còn ẩn giấu vẻ đẹp kiêu hùng của một thời “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Mỗi nhịp cầu là một sự mê hoặc bởi sắc màu tàn phai cùng với niềm khao khát qua những chuyến tàu hú còi vượt sông.

Bờ sông sóng phố -0
Cột đồng hồ trên phố Trần Nhật Duật, đầu cầu Chương Dương.

Nếu chân cầu Long Biên nằm trên bến Hàng Nâu xưa thì trụ vòng xoay đầu cầu Chương Dương (khánh thành năm 1985) chính là bến bãi “Cột Đồng hồ” ở cuối phố Trần Nhật Duật. Ký ức về cột đồng hồ không bao giờ phai mờ với người dân Hà Nội. Bởi lẽ cây cột đồng hồ này còn được đổ móng xây trước khi dựng cầu Long Biên. Đây là một trong những cột đồng hồ (bằng sắt) đầu tiên được dựng lên cho hành khách theo dõi giờ tàu xe trên các bến bãi ở đường phố. Vào thời gian này chưa đắp đê nên dòng sông Hồng chảy vào tới gần các phố Hàng Muối, Lương Ngọc Quyến và Nguyễn Hữu Huân. Do vậy bến xe được đặt tên là “Cột Đồng hồ”.

Có thể ít người biết cây cột đồng hồ hơn trăm năm đó đã được lưu giữ và bảo tồn. Những người thợ cầu trả lại vị trí của nó trên trụ vòng xoay lên xuống cầu Chương Dương hiện nay. Bến tầu thì biến mất, nhưng cây cột đồng hồ vẫn hiện diện theo năm tháng như một trụ hoa ký ức của thành phố. Hàng ngày người người qua lại trên cầu thường đi vòng quanh trụ hoa thép này và lắng nghe thời gian bay vèo trong sóng gió. Đó là một ký ức thân quen sống dậy trên mỗi con phố được tụ về bến sông xưa: “Nơi tôi sinh Hà Nội/ Ngày tôi sinh một ngày bỏng cháy/ Ngõ nhỏ phố nhỏ nhà tôi ở đó/ Đêm lặng nghe trong gió/ Tiếng sông Hồng thở than” ("Hà Nội và tôi" - nhạc sĩ Lê Vinh).

Đồng vọng

Sự độc đáo của đường Trần Nhật Duật còn tạo được mỹ cảm khi trở thành con đường gốm sứ nối dài tới cung đường Yên Phụ. Qua những bức tranh được dựng tại tường bao đê sông Hồng (đối diện với dãy số nhà chẵn) tôi luôn bị ám ảnh về hồn vía Thăng Long ngàn năm. Bức tranh hoành tráng về Thủ đô ngay tại chân vòng xoay cầu Chương Dương như bản thánh ca về một thành phố Hòa bình. Một Văn Miếu hiện về. Một Hoàng thành linh thiêng. Và những cánh chim hòa bình bay rợp trời Thủ đô.

Tôi bỗng nhớ tới NSƯT Vũ Dậu, người đã gắn bó hàng chục năm ở phố Trần Nhật Duật. Giọng hát ngọt ngào trong trẻo của chị ngày nào vẫn còn vang vọng đâu đây, đó là một “Hà Nội niềm tin và hy vọng” cùng “Những ánh sao đêm” và “Cô gái mở đường”. Ký ức tràn về, sau trận chiến của đơn vị phòng không bắn máy bay Mỹ trên cầu Long Biên thì giọng hát của Vũ Dậu lại vang lên. Một cảm xúc tự hào linh thiêng dâng trào cảm xúc: “Hà Nội đó niềm tin yêu hy vọng/ Của núi sông hôm nay và mai sau/ Chân ta bước lòng ung dung tự hào/ Kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao” ("Hà Nội niềm tin và hy vọng" - Phan Nhân).

Vương Tâm

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.