Biệt tài vận dụng thành ngữ và cổ thi của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”

Một trong những lý do làm người đọc cảm nhận ngôn ngữ trong "Truyện Kiều" đẫm chất dân gian, gần gũi với OK9giaitri đăng nhập hàng ngày là Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 sử dụng tiếng nói quần chúng của đại thi hào qua biệt tài vận dụng thành ngữ, tục ngữ.

  • Thủ pháp đảo ngữ trong "Truyện Kiều"
  • Câu lục phá cách trong “Truyện Kiều”

Trong lịch sử thi ca của ta từ xưa đến nay, khó tìm được một tác phẩm nào mà thành ngữ, tục ngữ xuất hiện nhiều như trong "Truyện Kiều". Và cách xuất hiện cũng hết sức linh hoạt, khi thì nguyên văn, khi thì được biến báo bằng cách chèn thêm một số từ khác, cho hợp tình, hợp cảnh. Đại thi hào Nguyễn Du sử dụng khéo léo đến nỗi, lắm lúc chúng ta không còn biết được những câu thành ngữ quen thuộc đã nhập vào trong "Truyện Kiều", hay chính "Truyện Kiều" đã tạo ra những thành ngữ, tục ngữ ấy!

Dọc theo nỗi đoạn trường của Thuý Kiều, không biết bao lần những câu chứa thành ngữ, châm ngôn… làm chúng ta cảm thấy lý thú và hiểu được ý nghĩa sâu xa tác giả muốn gửi gắm, nhưng nếu là một người nước ngoài có biết tiếng Việt thì sẽ ngỡ ngàng rồi lần tìm từ điển để tra, nhưng cũng khó có từ điển nào làm cho họ hiểu được như ta đã hiểu. Đó là “Mạt cưa, mướp đắng đôi bên một phường”, là “Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau”, là “Ở đây tai vách, mạch rừng”, là “Kiến trong miệng chén có bò đi đâu”, là “Cho người thăm ván bán thuyền biết tay”…

tranh sơn dầu vẽ thuý kiều treo tại khu tưởng niệm nguyễn du ở hà tĩnh.jpg -0
Tranh sơn dầu về nhân vật Thúy Kiều được treo tại khuôn viên khu di tích Nguyễn Du trong dịp kỷ niệm 255 năm ngày sinh và tưởng niệm 200 năm ngày mất của ông. Ảnh: Đức Hùng

Theo sự thống kê của chúng tôi, trong "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ, châm ngôn khoảng 180 lần. Có những đoạn thơ, đại thi hào cho thành ngữ, châm ngôn xuất hiện gần như liên tục trong các câu thơ. Ví như đoạn nói về ý nghĩ của Hoạn Thư:

Làm cho trông thấy nhãn tiền
Cho người thăm ván bán thuyền biết tay
Nỗi lòng kín chẳng ai hay
Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Trong bốn câu lục bát này có ba thành ngữ được nhắc đến: trông thấy nhãn tiền, thăm ván bán thuyền và gió thổi ngoài tai. Hay như bốn câu thơ:

Nghĩ đà bưng kín miệng bình
Nào ai có khảo mà mình lại xưng
Những là e ấp dùng dằng
Rút dây sợ nữa động rừng lại thôi

cũng có ba câu thành ngữ: kín như hũ nút (kín như bưng), không khảo mà xưng, rút dây động rừng…

Cách sử dụng thành ngữ, châm ngôn của Cụ cũng rất linh hoạt. Phần lớn thành ngữ được giữ nguyên, đưa vào làm một phần của câu thơ mà câu thơ vẫn giữ được vẻ tự nhiên, như mạt cưa mướp đắng trong “Mạt cưa mướp đắng đôi bên một phường”; một cốt, một đồng trong “Lạ gì một cốt một đồng xưa nay”; cá chậu, chim lồng trong “Bõ chi cá chậu, chim lồng mà chơi”, một hội, một thuyền trong “Cùng người một hội một thuyền đâu xa”, ăn xổi, ở thì trong “Phải điều ăn xổi, ở thì”… Nhưng không ít câu thành ngữ được biến báo, giữ lấy ý nhưng thay đổi cách diễn đạt. Chúng ta cùng theo dõi bảng thống kê sau:

Biệt tài vận dụng thành ngữ và cổ thi của Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” -0

Một số lớn thành ngữ trong "Truyện Kiều" là mỗi câu gồm bốn từ, thường chia thành hai nửa đối xứng nhau, diễn tả được một ý nào đó. Ví dụ: Thân gái, dặm trường; Gìn vàng, giữ ngọc; Nước đục, bụi trong; Thay bậc, đổi ngôi; Lỡ một, lầm hai; Tháo cũi, sổ lồng; Nhắm mắt, đưa chân; Liễu chán, hoa chê; Bướm lả ong lơi; một tỉnh, mười mê; Kết tóc, xe tơ… Với những thành ngữ loại này, chúng ta thật khó xác định được rằng những thành ngữ nào có sẵn từ trước, những thành ngữ nào sinh ra từ "Truyện Kiều"?

Đối với các thành ngữ chữ Hán, có một số câu tác giả "Truyện Kiều" để nguyên văn, nhưng tìm cách đưa đẩy, dắt dẫn để cho ngay cả những người không biết tiếng Hán, khi chưa đọc chú thích, cũng sơ bộ hiểu được nội dung thành ngữ ấy:

Lạ gì “bỉ sắc tư phong”
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Hay:

Nàng rằng: “thiên tải nhất thì”
Cố nhân dễ đã mấy khi bàn hoàn…

thì câu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” giúp người ta hiểu sơ bộ nghĩa “bỉ sắc tư phong” là được điều này, mất điều kia; hay: “Cố nhân dễ đã mấy khi bàn hoàn” giúp hiểu nghĩa “thiên tải nhất thì” là rất hiếm khi, ngàn năm có một…

Nhưng trong nhiều trường hợp, Nguyễn Du đã diễn Nôm thành ngữ chữ Hán thành một vài câu thơ thuần Việt, rất nhuần nhuyễn và dễ hiểu. Ví như muốn nói Thúy Kiều vì đã từng ở lầu xanh rồi nên rất sợ những gì tương tự, Nguyễn Du liền cung cấp cho bạn đọc thành ngữ “Kinh cung chi điểu” nhưng được Việt hóa:

Thiếp như con én lạc đàn
Phải cung rày đã sợ làn cây cong.

Hay như câu thành ngữ “Tam thập lục chước, tẩu vi thượng sách” (trong ba mươi sáu chước, chước chạy là hay nhất) thì được Cụ diễn Nôm bằng một câu nghi vấn mà ai cũng biết lời đáp: “Ba mươi sáu chước, chước nào là hơn?”.

Chỉ những thành ngữ chữ Hán tương đối thông dụng thì Nguyễn Du mới để nguyên, như: Động địa, kinh thiên; Nhân định thắng thiên, Bình địa ba đào; Quốc sắc, thiên tài; Ngộ biến tùng quyền... với cách dắt dẫn tự nhiên và dễ hiểu.

Bên cạnh việc sử dụng thành ngữ dân gian, khi sáng tác "Truyện Kiều", Nguyễn Du không ít lần chuyển tải những câu, những ý cổ thi vào tác phẩm của mình. Đại thi hào Nguyễn Du cũng như các nhà thơ cùng thời quan niệm rằng, bên cạnh những gì mình sáng tạo ra, chuyển tải những tinh hoa của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, của nhân loại đến với bạn đọc là một việc nên làm.

Ví dụ câu: “Tự cổ hồng nhan giai bạc mệnh”, có nghĩa là: “Từ xưa đến nay, những kẻ hồng nhan đều bạc mệnh”, được Nguyễn Du Việt hóa thành:

Rằng: hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu…

vừa giữ nguyên được ý của xuất xứ, về tự nhiên, dễ hiểu một cách dân gian.

Có khi đưa cổ thi vào "Truyện Kiều", Nguyễn Du đã nâng câu thơ lên một tầm mới, hay hơn ý thơ đã có. Ví như hai câu tả cảnh trăng trong cuộc chia ly của Thúc Sinh và Thúy Kiều:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường.

Ai cũng biết rằng, ý trong hai câu thơ này đi từ câu cổ thi:

Thùy bả kim bôi phân lưỡng đoạn
Bán trầm thuỷ để, bán phù không

(Ai cầm chén vàng chia ra hai nửa/ Nửa chìm đáy nước, nửa trôi trên không). Thấy nửa vầng trăng mà hỏi “Ai xẻ trăng ra hai phần” là xuất phát từ cổ thi, Nguyễn Du nói rõ cho bạn đọc thấy điều đó, chứ không hề che giấu. Bây giờ ta xét xem Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trong câu cổ thi này và so sánh với câu trong "Truyện Kiều". Nhìn nửa vầng trăng trên trời, nửa vầng trăng dưới nước mà hỏi ai xẻ vầng trăng ra làm đôi, là một ý thơ hay, bất ngờ do sự quan sát và phát hiện. Nhưng dù sao, đây là câu thơ viết bằng cái nhìn, đơn thuần tả cảnh thiên nhiên.

Đem “Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường” mà so với “Nửa chìm đáy nước, nửa trôi trên không”, ta thấy rằng câu thơ cổ thi này chỉ là điểm xuất phát để Nguyễn Du đi một bước thật xa, biến câu thơ tả cảnh có thể nhìn bằng mắt thành câu thơ tả tình đặc sắc nói về sự chia phôi. Người chia ly rồi, vầng trăng tưởng như cũng chia thành hai nửa, một nửa theo Kiều về nơi gối chiếc, một nửa theo Thúc Sinh chốn dặm trường, thì sự chia đôi vầng trăng đó mới thật kỳ diệu và khó phát hiện hơn nhiều so với sự chia đôi đơn thuần tính chất vật lý trong câu xuất phát.

Nguyễn Du đã dựa vào một câu cổ thi để sáng tác ra một câu thơ mới hay hơn hẳn, nếu bảo Cụ đã dịch câu cổ thi trên kia, thì sự sai lầm chẳng khác gì nói rằng Cụ đã dịch “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân ra "Truyện Kiều"!

Trong "Truyện Kiều", những câu thơ xuất phát từ cổ thi, vận dụng cổ thi còn nhiều, như tả tiếng đàn, tả cảnh mùa xuân… Và trong từng câu cụ thể, ta đều thấy được biệt tài của Đại thi hào khi sử dụng cổ thi cũng như thành ngữ dân gian khi sáng tác "Truyện Kiều".

Vương Trọng

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.