Bi hùng Trưng Nữ vương!

Nhà thơ Ngân Giang (1916-2002) tên thật là Đỗ Thị Quế, sinh ra trong một gia đình Nho học làm thơ từ sớm, nổi tiếng với “Giọt lệ xuân”(bút danh Hạnh Liên, 1932); “Tiếng vọng sông Ngân” (1944); “Thơ Ngân Giang” (3 tập 1989, 1991, 1994)… Nhưng thể hiện rõ nhất phong cách Đường luật với giọng điệu bi hùng của thi nhân là ở “Trưng Nữ vương”.

  • “Thiên mệnh” - ánh xạ bi hùng về Quang Trung - Nguyễn Huệ
  • Sách “Gạc Ma – Vòng tròn bất tử” – khúc tráng ca bi hùng

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi

Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời...

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi

                                               (1939)

image001.jpg -0
Nữ sĩ Ngân Giang thời trẻ.

Nhà thơ Ngân Giang (1916-2002) tên thật là Đỗ Thị Quế, sinh ra trong một gia đình Nho học làm thơ từ sớm, nổi tiếng với “Giọt lệ xuân”(bút danh Hạnh Liên, 1932); “Tiếng vọng sông Ngân” (1944); “Thơ Ngân Giang” (3 tập 1989, 1991, 1994)… Nhưng thể hiện rõ nhất phong cách Đường luật với giọng điệu bi hùng của thi nhân là ở “Trưng Nữ vương”.

Bài thơ tạo nên tên tuổi tác giả, đi vào lịch sử văn học với tư cách một thi phẩm kiến tạo thành công hình tượng nhân vật Trưng Trắc - mà trong lịch sử vẫn được ví như “chim bằng” (một hình tượng trong bài thơ) mạnh mẽ kiên cường sải đôi cánh hùng tráng và bi tráng kiêu hãnh bay vào bầu trời văn hóa phương Đông, để rồi cho đến nay cả nhân loại nhìn theo đường bay ấy vẫn chưa hết ngỡ ngàng, ngạc nhiên.

Theo nguyên tắc dựng tượng đài cần có một không gian tương ứng, thì chỉ có không gian này mới đủ để người anh hùng ấy “vùng vẫy”:

Thù hận đôi lần chau khóe hạnh
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm
Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi.

Trưng Nữ vương bước vào không gian ấy bởi hai lý do “thù hận đôi lần”, là “thù nhà”, Thái thú Tô Định giết chồng bà là Thi Sách và “nợ nước”, quân xâm lược đang giày xéo non sông. “Một trời loáng thoáng bóng sao rơi” rất gợi, vừa tả không gian buồn lặng, vừa ẩn dụ chỉ thời buổi hiếm hoi những dũng khí tài năng đuổi giặc. Tuy là “thân gái” nhưng bà gánh vác sứ mệnh thay Ok986 vip Thiên đường trò chơi để “Dồn sương vó ngựa xa non thẳm/ Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi”.

Hình tượng “chim bằng” có từ ngụ ngôn trong sách Trang Tử kể về giống chim to lớn, đập hai cánh lớn như hai đám mây rồi cưỡi gió mà bay lên cao chín ngàn dặm, bay về biển Nam (người Việt ta gọi là biển Đông). Nội dung tích này lý giải hình tượng chim bằng bay nhiều trong trước tác các vị đại Nho thời trung đại xứ ta, vì nó phù hợp, “ăn nhập” với khát vọng “thỏa chí tang bồng”…

Mượn điển rất đạt, vừa đúng với tinh thần cổ nhân vừa lột tả ý chí mạnh mẽ cùng hành động phi thường đuổi giặc của người anh hùng. Sử dụng các thi liệu cổ, hình ảnh cân xứng, đi theo lối phối âm bằng trắc gần như tuyệt đối (BBTTBBT/ TTBBTTB) tạo ra âm hưởng Đường thi cứ như đẩy hình tượng trở về không gian cổ xưa vậy.

Nếu ở trên là không gian ước lệ, cường điệu thì ở khổ sau hình tượng được đặt vào các không gian cụ thể, gắn với hành động “đường kiếm mã” (lúc ra trận), gắn với trang phục “nếp cân đai” (lên ngôi vương):

Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai.

Hai câu sau cấu trúc theo lối tiểu đối: “bốn phương”, “tám hướng” để chỉ sự kiện “dồn chân ngựa” diễn ra ở khắp mọi nơi, mọi nẻo, nhất là đối với hình ảnh “táp đóa mai” (chỉ hình ảnh người nữ hứng chịu cảnh gian nan giông bão) để làm bật ra cảnh “thân gái dặm trường” cô đơn. Ý thơ pha một chút ngậm ngùi. Ngày trước “mai” thường biểu trưng cho bậc quân tử nhưng vẫn có thêm nghĩa chỉ người vợ với tích đời Tống có nho sĩ tên Lâm Bô rất yêu mai (hoa), yêu hạc (chim) đến mức không lấy vợ, mà coi “mai thê hạc tử” (vợ là hoa mai, con là chim hạc). Hiểu vậy càng thấy tác giả dùng điển chính xác, tinh tế, kết hợp với phép bằng trắc khá chuẩn (TBTTBBT/ TTBBTTB), chỉ sai âm đầu (Bốn/Tám TT). Nhưng chính sự sai cố tình này lại diễn đạt xuất sắc cái ý “chân ngựa” phi không đều, và cái “gió bão”, “mưa ngàn” thì luôn bất định.

image002.jpg -1
Hình minh họa Hai Bà Trưng đuổi giặc.

Khổ 3 miêu tả tâm trạng của một thân phận “nữ nhi thường tình”:

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai
Hồn người chín suối cười an ủi
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi.

Giọng thơ đi bè trầm, sâu lắng buồn. Trả xong thù nhà nợ nước, Trưng Nữ vương lên ngôi là việc chẳng đặng đừng, bởi trong sâu thẳm đáy lòng, Bà đâu thích chuyện làm vua mà chỉ muốn làm một người vợ, người mẹ bình thường. Vì thế tuy làm vua nhưng vẫn là tâm trạng của một người dân, vẫn coi điều giúp chồng “ngậm cười nơi chín suối” là điều an ủi. Còn với riêng phận mình thì vẫn “Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi”.

Một ẩn dụ đắt: phận người góa phụ như ngọn nến đang cháy “rỏ” lệ đến hết mình trong đêm. Hết nước mắt cũng là hết một đời. Xót quá! Hai chữ “an ủi” đặt giữa hai câu thơ như cái bản lề khép mở hai thế giới âm dương cách biệt. “An ủi” cả người chết lẫn người sống. Nhưng người sống còn đau hơn, vì người chết đã “ngậm cười” còn người sống thì bơ vơ “ngậm ngùi”. Câu thơ như có nước mắt và cả máu. Không phân biệt được giọng điệu của tác giả và của nhân vật. Vì cả hai như đã nhập vào nhau, nói hộ nhau, nói cho nhau!

Ở khổ 4 là bi kịch. Giọng bi nổi lên trang nghiêm thành kính:

Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận
Gót ngọc gieo hoa ngát mấy trời...

Lúc này lối bằng trắc nghiêm ngặt không chệch một nhịp âm: TTBBBTT/ BBTTTBB; BBTTBBT/ TTBBTTB. Cả câu chữ cũng nghiêm ngắn cúi đầu tiễn đưa người anh hùng bay lên trời.

Khổ thơ cuối là một cấu trúc đặc biệt:

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi.

Trên cái nền không gian đối nhau: ải Bắc vắng bóng thù thì người anh hùng lại trở về với thân phận “Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi”. Là bậc quân vương nhưng chịu sống trong cảnh “khăn trở” chết chồng. Cấu trúc đối để bật ra một tiếng gọi thảng thốt của một tâm hồn đích thực nữ tính: “Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá”. Cả bài miêu tả cảnh vật không gian, cả bài là tâm trạng đau đớn, khắc khoải, như các ngả sông buồn tủi dồn tụ về để bật ra tiếng nức nở xót xa này.

Tinh thần thi phẩm nằm ở đấy. Thế nên mới có giai thoại nhà thơ Đông Hồ bình đến đây xúc động quá mà đột quỵ, ngất đi. Giai thoại thì có thể sai, nhưng điều làm nên giá trị của tác phẩm lớn thì đúng. Trong cái vỏ âm thanh tiếng gọi ấy là cả một tinh thần nhân văn, nhân bản lớn lao, sâu sắc: Dù có sống nơi điện ngọc huy hoàng thì vẫn cần hơn cả là một tình yêu chồng vợ gần gũi, một gia đình ấm áp. Cái đời thường ấy mới lớn hơn mọi thứ phù hoa!

Một bi kịch mà dư âm sẽ vang mãi trong không gian, trong hồn người nên kết bài là sự mở ra một không gian thiếu khuyết, nghiêng lệch càng tăng cường thêm nên sự day dứt: “Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi”!

Trước nay người ta vẫn nói hai nguồn thi cảm chính của bài thơ là chất Đường thi cổ điển và tâm trạng bi kịch của thi sĩ với những đổ vỡ trong đời riêng. Đặt vào hoàn cảnh ra đời năm 1939 khi mà Phong trào Dân chủ Đông Dương (1936-1939) mạnh mẽ như một sức đẩy tinh thần yêu nước, lòng tự tôn Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 lên một tầm cao mới, thì, ngay điều ấy cũng cho thấy bài thơ có thêm hai nguồn cảm hứng là tinh thần tự hào truyền thống và khí thế sục sôi của những phong trào yêu nước. Chắc chắn còn được hưởng ngọn gió nhân văn mát lành thổi từ văn hóa phương Tây, nhất là từ văn học Pháp. Như vậy nhờ có bốn cây cột chắc chắn: cảm xúc thi nhân; lòng tự hào về quá khứ vẻ vang; tinh thần dân chủ yêu nước; các luồng tiếp biến văn hóa nước ngoài (Đường thi, văn học Pháp…) nên ngôi nhà thi phẩm “Trưng Nữ vương” vững vàng sừng sững sống mãi với thời gian.

Giống như cuộc đời riêng tác giả nhiều ngang trái đa đoan, bài thơ cũng có số phận nổi chìm đầy trắc trở. Khi nổi danh trên văn đàn bài thơ vẫn không được Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan chú ý. Không trách các ông, vì mỗi người có quan niệm, khiếu thẩm văn riêng, nhưng nhiều học giả sau này không vượt ra được bóng hai cây đại thụ ấy nên cũng không đưa vào giáo trình hay từ điển. Mãi tới năm 1999 tên tuổi Ngân Giang mới được khẳng định trong cuốn "Từ điển tác gia văn hóa Việt Nam". Bài viết xin là một lời nhỏ khẳng định sự bất tử của một thi phẩm để đời!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.