Có những tập thơ khi đọc hết, lòng ta chợt trở nên hoang hoải, buồn vắng, muốn lang thang ra đường, muốn cô đơn, một mình nghĩ ngợi nhìn tận sâu vào bên trong của mình, tự làm lắng lại những gì còn lao xao đâu đó trong tâm hồn. Những tập thơ như vậy lâu lâu mở ra, cảm giác được đánh thức lại đến, như một người thân đi xa về, thủ thỉ mà nồng nàn, nhỏ nhẹ mà thấm sâu. Tôi ao ước có trên giá sách nhiều tập thơ như vậy.
Tôi đã từng đọc Tuyết Nga qua những tập "Ảo giác" và "Hạt dẻ thứ tư". Tôi cũng đã từng lang thang như vô định những lần đọc hết các tập thơ ấy. Thơ ca có gì mà lạ quá, muốn yên chẳng thể, muốn tự làm lắng lại, nhưng có gì đó cứ vỗ cánh từ thật sâu trong biển quên của ký ức.
Ngày mai...ngày mai như bờ sông lạ
...Có thể rồi chỉ còn là ảo giác mà thôi
cả màu trăng đêm ấy
cả những lời đã nói
có thể chỉ còn là ký ức xa xôi
(Viết trước tuổi mình).
Một cảm giác vẫn còn nhưng đang trôi về phía ảo. Hình ảnh bờ sông lạ cho ta nhận xét ấy. Nhưng cái sự trôi ở đây không bình thường vì trôi trong nhớ tiếc. Cặp chữ có thể,... mà thôi trong câu thơ gợi sự nhớ tiếc ấy. Màu trăng đêm ấy, những lời đã nói... trong trí nhớ của một cô bé tự mình tin yêu, tự mình nhầm lẫn cho thấy sự chập chờn bất định của một ngày mai - bờ sông lạ không phải bến đỗ của những con thuyền! Ca dao nói "Sáng trăng sáng cả vườn nhà / anh yêu em thật hay là yêu chơi" là nói thẳng, trong đó chỉ có một nửa nghi ngờ. Còn Tuyết Nga như đã linh cảm được cái chỉ còn là ký ức, nghĩa là cái đã ở trong suy tưởng, trong ảo giác.
Khát vọng về tình yêu, hạnh phúc có ở trong mọi trái tim. Nhưng nếu với các chàng trai, mọi chuyện có thể thanh thản đến trong một sớm, mọi trắc trở có thể qua đi theo thời gian, thì phía bên kia, sự cân nhắc, lựa chọn như một bản năng giới, đến rất khó và đi cũng thật khó, đầy day dứt, lo âu.
Đây là một nửa:
Ánh mắt của đại ngàn vạn tuổi vách đá thâm u ánh lửa cháy rừng
vòm ngực của cánh đồng vô tận tiếng hú dài hoang lạnh hoàng hôn
cánh tay những vòng ôm của sóng đáy vực sâu nhoà lẫn những chân trời
Anh
Bản nháp của tình yêu một sớm
Và đây là nửa bên phía mình:
Trái tim như phế tích nép lặng im hiu hắt phía đêm dài
kỷ niệm lở trơ nỗi niềm phai nhạt
những vui buồn loang lổ tháng năm
lời yêu như cỏ rối miên man không khuất được nhớ thương đang mục rữa
Em
Bản nháp của tình yêu đầy dập xóa.
(Ảo giác)
Lo âu, thấp thỏm trước ngày sẽ đến, với khoảng đời trước mặt mênh mông nỗi buồn, trong khi niềm vui chỉ "như đồng tiền giật tạm" vẫn thường làm "máu nhỏ xuống âm thầm kỷ niệm". Thơ Tuyết Nga là lời cất lên của một trái tim thường buồn, dễ bị tổn thương, nhiều trắc ẩn: "Đốm vàng u ẩn một triền sông.../ Trái tim buồn như một trái cây rơi.../ Hạnh phúc với tay chạm vào nước mắt/ Gió gom về từng mảnh dung nhan" (Ảo giác).
Nguyễn Trọng Tạo thống kê được khá nhiều từ "thôi" trong thơ Tuyết Nga: "Thôi anh mong nhớ sẽ theo về/ Thôi ta đi cùng nhau một lần cuối nữa /Thôi em...thôi em dòng sông đã chảy/ Thôi nào trái tim .../Nào thôi con đường nhỏ.../ Thôi em tin cùng anh…"…vv… và anh cho rằng chữ "thôi" trong thơ Tuyết Nga "như một thông báo về giọng điệu tâm hồn". Có một sự dùng dằng nào đó của sự thoả hiệp, hay là sự dứt bỏ, không hẳn! Đây có lẽ là những ngập ngừng, những vỗ về, sự tự nén mình, vừa êm ái vừa như cam chịu, có một chút uỷ mị, một chút run sợ thời gian, một chút buông xuôi, cả nể, một chút u hoài nhẹ nhàng...rất bản năng giới.
Khá nhiều trong thơ Tuyết Nga hiển hiện hình ảnh "một nửa" của chị. Góc nhìn khá rộng, nhưng rồi điểm quy tụ, điểm đến lại thường là:
Anh có về như gió?
Nếu con đường ấy gió chưa qua đồi nếu ngôi chùa ấy chuông vẫn buông lời
Anh có về như nắng?
(Hạt dẻ thứ tư)
Này đây "Anh về lại góc hồn quên lãng, Thôi anh hãy xem nụ cười bình thản, Anh chôn mình ở đâu..., Anh đi đâu, ngơ ngác từng lối cỏ, Anh đến từ xa thẳm, Anh đổ về như sóng quanh em/ Nào thôi con đường nhỏ quanh co nữa làm gì....". Không khó nhận ra giọng khắc khoải từ quy về một nửa bên kia mình.
Hình như không bao giờ con người tìm được bình yên khi nghĩ tới hạnh phúc, nghĩ tới tình yêu. Nó là gì, hạnh phúc là gì vậy, mà sao thật hiếm hoi trên thế gian? Nó làm ai cũng bất ổn, thấp thỏm, khổ đau. Ngày trước Phạm Hầu đã từng cảm thấy mình như đang chết chìm trong cái biển vắng của cô đơn:
Đưa tay ta vẫy ngoài vô tận
Chẳng biết xa lòng có những ai?
Tuyết Nga mang tâm trạng "khắc khoải của chiếc lá úa/ nỗi âu lo của những mầm cây lỡ cược với mùa màng". Và cả những cam chịu, một sự cam chịu khó gọi tên, đã ra ngoài những trắc ẩn, kiểu:
anh với em
khắc khoải
đớn đau
năm tháng cũ nhàu:
Thôi anh hãy xem nụ cười bình thản
Với một ngọn gió buồn đâu đó nữa là tôi.
(Ảo giác).
"Ngọn gió buồn... là tôi" - ngọn gió buồn là tâm trạng của nhà thơ và chữ "tôi" rất xa cách là thái độ của chị. Nói ra được như thế may ra để tìm được sự thanh thản. Bởi vì trong tình cảm của nhà thơ luôn nhói đau những câu hỏi về nhân thế. Về mẹ: "Hãy nói với ta hương bưởi thơm ra sao ngày mẹ 18 tuổi/...Mẹ từng đứng nơi nào để dõi cánh buồm trôi/...Và mẹ đã giấu hoa cùng nước mắt ở đâu/ để nuôi ta khôn lớn (Ảo giác). Về thời gian: "Màu thời gian bạc con đường cỏ mọc". Về mình: "Tận một đêm dài ngày còn lơ lửng/ Cuối một chiều xa hồn đang lững thững". Về duyên phận mình: "Vé tàu định mệnh đã cầm tay / Đã bấm khóa nhớ thương đã chốt trong ký ức/ Đã tặng quà từ biệt, đã ra ga" (Hạt dẻ thứ tư). Bởi vì trước đó, một sự quyết định đã được thực hiện:
Gai tự trọng
đá vô cảm
thập thững khúc quanh tối tăm bất chợt...Thôi đành gặp vịt cũng lùa
gặp duyên cũng kết
gặp chùa cũng tu.
(Hạt dẻ thứ tư)
Không hẳn là sự buông xuôi định mệnh mà là cảm giác về thời gian thường là một áp lực thường trực của mỗi người, đặc biệt là các chị.
Tuyết Nga không chỉ diễn đạt tinh tế những trắc ẩn của một tâm hồn không đơn giản. Thơ chị còn mở ra không gian của những suy tưởng, với những linh cảm đặc biệt:
Anh đến từ xa thẳm
một mùa ta đã quên cúc bất tử ven đường
một vùng sóng không reo không gầm gào
biển đứng...
(Hạt dẻ thứ tư)
Một không gian đã nhuốm màu phi thực của "mùa ta đã quên", vậy nên người đến cũng không còn thực, mà là một ảo giác vì sự bất thường nơi biển đứng, nơi sóng không reo, không gầm gào. Đấy cũng chính là không gian của thi sĩ:
9 mô - đun kiểu Điềm Phùng Thị
em
phía ngoài không gian
(Hạt dẻ thứ tư)
Một lối ứng xử ngược sáng từ trong vô thức, trong ảo giác, nơi quên và nhớ cùng ẩn hiện, vẫn như chập chờn bất định, trong khi nhan sắc thực tại mất đi mỗi khi một hiện rõ:
Trong bóng tối của ngày ánh sáng của đêm
những gương mặt hỗn mang buồn vui mờ chồng ký ức
ảo thuật tâm hồn trước bình minh vô thức
nhan sắc chờ bóng tối đến mang đi
(Hạt dẻ thứ tư)
Một không gian siêu thực, đúng hơn là thực hư như một khoảnh khắc không sao cắt nghĩa được, nhưng với những người làm thơ thì cảm nhận được, vì thơ đâu chỉ viết về cái nhìn thấy mà còn viết về nghĩ thấy, cảm thấy. Đó chính là nét hiện đại trong thơ Tuyết Nga:
Một giây thôi
đá trở
những ngôi sao những đám mây rụng xuống
những dòng sông đứng im
cánh cổng mục và con đường cất cánh
(Hạt dẻ thứ tư)
Một mô thức thời gian không cùng chiều, như thể đang đóng gói dĩ vãng, sắp đặt lại những ký ức và trong hành lý mang theo không thể nào quên một cặp mắt nhìn thôi miên như một hồi chuông nguyện. Thơ thường hay dừng lại nơi những cặp mắt mang nhiều những gửi gắm, chứa nhiều những ý nghĩa, đựng nhiều những u uẩn như vậy:
Xếp vào hôm qua
một bờ sông xanh một triền đê hoang một mùa lang thang
mắt ai như hồi chuông nguyện
(Hạt dẻ thứ tư).
Kể từ tập "Viết trước tuổi mình" (NXB Nghệ An, 1992) đến tập "Ảo giác" (NXB Hội nhà văn, 2002) và đến "Hạt dẻ thứ tư" (NXB Văn học, 2008), tuy vẫn giữ được những vẻ tươi tắn của một giọng điệu như tiếng rung ngân lảnh lót của một cây đàn tranh năm nào, nhưng thật sự Tuyết Nga đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Thơ chị càng ngày càng nghiêng về phía suy tưởng, và vì thế càng ngày càng đạt đến vẻ đẹp của thơ hiện đại. Thơ ấy khác xa với những ồn ào, với những trò lập dị loè loẹt, với những câu thơ làm dáng tân thời, với những cách nói huỵch toẹt, ngôn ngữ "thời hiện đại". Thơ ấy đang bị khuất lấp vì vẻ đẹp lặng lẽ của nó. Nhưng thơ ấy là một hướng đi triển vọng của thơ Việt