Bản lĩnh ngoại giao Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông (1258-1308) tên húy là Trần Khâm. Khi mới được sinh ra, Thái tử Trần Khâm đã có bản tính Phật. Ngài không thích làm vua, nhưng vua cha Trần Thánh Tông ép mãi, Trần Khâm đành phải chấp nhận ngồi lên ngôi Hoàng đế nhà Trần. Trần Nhân Tông trị vì từ năm 1278 đến năm 1293.

  • Đại lễ tưởng niệm 710 năm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn sẽ thu hút hàng vạn người
  • Viện Trần Nhân Tông sẽ đào tạo tiến sĩ Phật học đầu tiên tại Việt Nam

Trần Nhân Tông là vị vua anh hùng. Bản lĩnh của Ngài được thể hiện ở vị trí lãnh đạo hai cuộc kháng chiến vệ quốc chống giặc Nguyên Mông vĩ đại. Trần Nhân Tông còn là một vị vua thi sĩ tài hoa. Hơn thế, Trần Nhân Tông chính là người sáng lập, đồng thời là vị Tổ thứ nhất của dòng Thiền TRÚC LÂM YÊN TỬ, mang bản sắc nhập thế Đại Việt.

hình ảnh trần nhân tông.jpg -0
Hình ảnh Vua Trần Nhân Tông qua nét vẽ phục dựng.

Đây là một trong một số bài thơ hay, vua Trần Nhân Tông viết tặng sứ thần nhà Nguyên là ông Lý Tư Diễn, khi ông này chuẩn bị lên đường về nước, kết thúc nhiệm vụ sứ thần “Thiên triều” mang chiếu thư “tha tội”, đồng thời sắc phong vua Trần tiếp tục làm AN NAM QUỐC VƯƠNG…

                                       Vũ Bình Lục

Phiên âm:

TẶNG BẮC SỨ LÝ TƯ DIỄN

Vô lộ uông dương phổ Hán ân,
Phượng hàm đan chiếu xuất hồng vân.
Thác khai địa giác giai hòa khí,
Tịnh hiệp thiên hà tẩy chiến trần.
Tận đạo tỉ thư thập hàng hạ,
Thắng như cầm điện ngũ huyền huân.
Càn khôn kiêm ái vô Nam Bắc,
Hà hoạn vân lôi phục hữu truân.

Dịch nghĩa:

TẶNG SỨ BẮC LÝ TƯ DIỄN

Ơn nhà Hán như mưa móc tràn trề khắp nơi,
Chim phượng ngậm tờ chiếu đỏ, xuất hiện nơi đám mây hồng.
Mảnh đất mới mở rộng cũng có hòa khí,
Kéo sông Ngân Hà rửa sạch bụi chiến tranh.
Mọi người đều bảo tờ chiếu ban xuống chỉ có mươi hàng,
Nhưng hơn hẳn hòa âm của chiếc đàn cầm năm dây.
Trời đất vốn một lòng yêu thương không phân biệt Nam Bắc,
Còn lo gì gặp bước gian truân gió mưa sấm sét.

DỊCH THƠ

I

Ơn tuôn mưa móc khắp nơi nơi,
Chiếu phượng tầng mây ban xuống rồi.
Hòa khí lan đều trên nẻo đất,
Can qua rửa sạch dưới vùng trời.
Chỉ là tờ ngọc lời thưa thớt,
So với đàn cầm giá mấy mươi.
Trời đất thương yêu Nam với Bắc,
Gió mưa cũng đỡ nỗi lo đời.

(TRẦN LÊ VĂN - dịch)

II

Tràn trề mưa móc bệ rồng,
Kia đám mây hồng, phượng ngậm chiếu thư.
Đất này hòa khí có dư,
Kéo sông Ngân, rửa oán thù sạch không.
Chiếu thư chỉ có mươi dòng,
Hòa âm hơn hẳn đàn cầm năm dây.
Trời thương khắp đó cùng đây,
Lo chi sấm sét đêm ngày gian truân!

(VŨ BÌNH LỤC-dịch)

Năm 1288, sau trận chiến Bạch Đằng lịch sử, quân xâm lược Nguyên Mông bị đánh tan tác, nước sông Bạch Đằng nhuộm đỏ máu tươi. Những kẻ may mắn được sống sót tơi tả chạy về nước. Nguyên Soái Ô Mã Nhi và tướng Tích Lệ Cơ bị bắt sống. Tên bại tướng Ô Mã Nhi sau được thả về, nhưng chiến thuyền của hắn chạy ra giữa biển thì bị đắm.

Nghe nói vua Trần Nhân Tông sai Đô tướng thủy quân cực giỏi là Yết Kiêu đuổi theo, lặn xuống biển đục thuyền cho nước tràn vào. Ô Mã Nhi chết đuối.

Sở dĩ có chuyện như vậy, là bởi vì tên tướng giặc Ô Mã Nhi từng đã mấy lần xua quân sang nước ta, gây ra quá nhiều tội ác với dân ta, kể cả việc hắn đã đích thân sai quân lính đào bới lăng mộ tiên tổ nhà Trần ở Long Hưng (huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình ngày nay). Vậy nên quân dân Đại Việt rất căm giận tên giặc tàn bạo mang tên Ô Mã Nhi. Phải trừng phạt hắn, nhưng mà phải thực hiện bằng “biện pháp mềm”…

Kết thúc cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, quân dân Đại Việt quét sạch quân xâm lược Nguyên Mông ra ngoài bờ cõi, bảo vệ được toàn vẹn non sông gấm vóc của Đại Việt.

Một lần về thăm Long Hưng, trực tiếp chứng kiến quang cảnh khu lăng mộ tổ tiên nhà Trần bị giặc Ô Mã Nhi đào bới tung tóe, bùn đất còn vương bẩn cả mấy con ngựa đá bên lăng, vua Trần Nhân Tông từng viết:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu!

(Xã tắc hai phen khiến ngựa đá cũng vất vả/ Non sông vạn thuở vững âu vàng).

Tuy nhiên, với sách lược “Nội cương ngoại nhu” (trong cứng rắn, ngoài mềm dẻo), nhà Trần vẫn sai sứ sang “Thiên triều” dâng biểu “tạ lỗi”. Năm sau, 1289, vua nhà Nguyên sai Lý Tư Diễn sang nước ta tuyên dụ chiếu “tha tội” và phong tước cho vua nhà Trần như cũ (An Nam Quốc Vương), mặc dù, đấy cũng chỉ là cái việc vạn bất đắc dĩ, nhằm vớt vát thể diện cho nước lớn mà thôi. Ngoài ra, sứ thần nhà Nguyên còn yêu cầu nước ta phải trao trả các tướng lĩnh của họ bị bắt làm tù binh.

Trong một bữa tiệc tiếp đãi sứ “Thiên triều”, Lý Tư Diễn có làm thơ xướng họa. Và đây là bài thơ vua Trần Nhân Tông viết tặng Lý Tư Diễn.

Có điều gì cần lưu ý trong bài thơ này? Ngay ở hai câu thơ mở đầu, tác giả viết:

Ơn nhà Hán như mưa móc tràn trề khắp nơi,
Chim phượng ngậm tờ chiếu đỏ xuất hiện nơi đám mây hồng.

Thế là sao? Lẽ ra phải là “ơn nhà Nguyên” chứ? Nhà Hán có còn đâu nữa? Nhà Hán không còn, nhưng dân Hán vẫn còn đó. Nhà Tống đã bị quân Mông Cổ tiêu diệt, lập ra nhà Nguyên rồi. Nghĩa là, Mông Cổ đã thực hiện được giấc mộng thống trị Trung Hoa. Lý Tư Diễn là sứ thần nhà Nguyên, nhưng ông ta lại là người Hán (tức người Trung Quốc). Nói điều này không thể là chuyện vô tình. Phải chăng, Trần Nhân Tông có ý muốn nhắc nhở thân phận mất nước của Lý Tư Diễn? Ông ta chẳng phải là kẻ đang phục vụ cho bọn thống trị Mông Cổ đô hộ Trung Hoa đấy sao? Chẳng phải ông ta cũng chỉ là một thứ nộ lệ cao cấp đấy sao? Thật là vô cùng sâu xa thâm thúy!

Ông Lý Tư Diễn chắc cũng tinh ý nhận ra cái điều nhục nhã này chăng? Ngoại giao như thế, là kéo gần đối thủ về phía mình, ly gián đối tác với chủ mới của họ. Lý Tư Diễn là một nhà Nho “gốc Hán”, chả lẽ lại không có liêm sỉ hay sao?

Hai câu tiếp theo cũng nhiều tình ý sâu sắc:

Mảnh đất mới mở rộng cũng có hòa khí,
Kéo sông Ngân Hà rửa sạch bụi chiến tranh.

Vậy “mảnh đất mới mở rộng” mà vua Trần Nhân Tông nói đây là mảnh đất nào? Trên kia, Trần Nhân Tông nhắc đến cái gọi là “Ơn nhà Hán”, chẳng qua cũng chỉ là ngôn ngữ ngoại giao đấy thôi, chứ thực ra nhà Hán đối với người Bách Việt của nước Nam Việt hùng mạnh thời Triệu Vũ Đế nói chung, với người Đại Việt sau này nói riêng, thì chúng cũng chỉ là bọn xâm lược, lấn cướp đất đai của người Bách Việt mà thôi.

“Vùng đất mới mở rộng” mà vua Trần Nhân Tông nói ở đây, phải chăng là ông muốn nói vùng đất phía Nam núi Ngũ Lĩnh của người Bách Việt, của nước Nam Việt, vốn đã bị người Hán cướp mất đó sao? Tất nhiên, đất đai của người Nam Việt trong đó có phần đất đai của người Lạc Việt, sau nữa là Đại Việt sau này?

Tác giả khẳng định rằng, “vùng đất mới mở rộng cũng có hòa khí”, nghĩa là nhân dân Bách Việt rất căm giận bọn xâm lược nhà Hán, sẵn sàng chiến đấu đến cùng để giữ lấy đất đai do tổ tiên để lại, nhưng vẫn sẵn lòng hòa hiếu, yêu thích hòa bình, mong muốn các Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 chung hưởng thái bình thịnh vượng? Do vậy, chúng ta cũng chỉ muốn “kéo sông Ngân Hà rửa sạch bụi chiến tranh”, để thiên hạ cùng nhau chung hưởng hòa bình đấy thôi!

Hai câu “luận” của bài thơ, tác giả ca ngợi tờ chiếu thư của “Thiên triều” từ trên trời ban xuống, dẫu chỉ có mươi hàng, nhưng nó lại chứa nhiều hòa âm, hơn cả chiếc đàn năm dây của vua Thuấn.

Sách LỄ NHẠC KÝ chép rằng, ngày xưa vua Thuấn làm cái đàn năm dây để ca bài ca “Nam phong”. Bài ca có câu: “Gió Nam hòa ấm có thể giải được sự oán giận của dân ta/ Gió Nam hợp thời có thể làm giàu của cải của dân ta”! Cho nên:

Trời đất vốn một lòng yêu thương không phân biệt Nam, Bắc,
Còn lo gì gặp bước gian truân gió mưa sấm sét!

Đấy là ý tưởng kết thúc bài thơ tặng sứ thần “Thượng quốc”, ông Lý Tư Diễn. Tác giả ngầm nhắc nhở ngài Lý Tư Diễn về cái quyền được sống bình đẳng của các Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trên thế giới nói chung, với phương Bắc (Trung Quốc) và phương Nam (Đại Việt) nói riêng. Đến như ý trời còn vậy, huống chi… Thế nên, mai mốt ngài trở về phương Bắc, còn lo gì gian truân, lo gì cái chuyện “vặt vãnh” gió mưa sấm sét nữa! Trời đất chắc sẽ phù hộ cho ngày trở về cố quốc của ngài được bình an. Chứ còn sao nữa?

Thế mới biết, ngoại giao là một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cao diệu, làm vui lòng người, lại đạt được ý mình, không để tổn hại đến danh dự quốc gia và hơn thế, còn gia cố được các mối quan hệ bang giao, giữ vững được hòa bình. Trong lĩnh vực này, thơ ca có vai trò và thiên chức cực kỳ to lớn là vậy!

Hà Nội 2014

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.