Bài thơ “Hoàn Kiếm hồ” có thật là của Trung Mục Vương Đinh Liệt?

Sách “Ngàn năm thương nhớ” (NXB Hội Nhà văn - 2004) có đăng bài thơ “Hồ Hoàn Kiếm” của Đinh Liệt và cho biết: “Gần đây, dòng họ Đinh ở Nông Cống - Thanh Hóa, có tìm thấy di cảo của Đinh Liệt, người đã phục vụ bốn triều vua Lê: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông. Trong di cảo có bài thơ nói về việc trả lại kiếm cho rùa vàng, nguyên văn chữ Hán, đề ngày 15 tháng Tám năm Mậu Thân 1428, tức là ngàOk986.vip bảo mật SSLt Trung thu”.

  • Nhân ngàOk986.vip bảo mật SSLt, đọc lại bài thơ "ông đồ" của Vũ Đình Liên
  • Tác giả bài thơ “Nói với con” – nhà thơ Y Phương qua đời

Bên cạnh đó còn “ghi chú” rằng: “Trong di cảo Đinh Liệt còn ghi thêm: Lê Sát xin cho chăng lưới bắt rùa để lấy lại kiếm thần nhưng Lê Lợi gạt đi”. Bài thơ như sau: “Nguyễn Thận hiến thần kiếm/ Vương gia phương kiếm bính/ Chân thiên thiện an bài/ Thập nhị niên đại định/ Hoàng Đế phụng thiên mệnh/ Bách tính đắc an cư/ Triều đình tân thiết lập/ Nông tang khởi phong thu/ Bang giao chính khai triển/ Hồi ức lạp tuyên từ/ Hồi ức Lam Sơn vãn/ Thiên hạ trương thái hòa/ Tinh giản binh thập vạn/ Quân thần ngoạn Tả Vọng/ Thuận Thiên hoàn kiếm thời/ Không trung khai lôi vũ/ Biếm nhãn nhật trùng lai/ Kim quy quẫn du vịnh/ Thanh thiên điểu tường phi/ Quần thần hoan tuyền tiếu/ Bách tính hô vạn tuế/ Hạnh phúc thái bình ca/ Ngoạn du thi nhất thủ/ Ân trạch nhuận vạn gia

(Dịch nghĩa: Nguyễn Thận dâng lưỡi kiếm thần/ Vương gia có được chuôi kiếm/ Trời sắp xếp thật là hoàn hảo/ Mười hai năm (thì) định xong công nghiệp lớn/ Hoàng Đế vâng mệnh trời/ Trăm họ giờ đã an cư/ Triều đình mới đã được thiết lập/ Lúa dâu đã bắt Ok9 cool link đăng nhậpơi tốt/ Bang giao đang mở rộng/ Nhớ sao lời thề xưa/ Nhớ sao chiều Lam Sơn cũ/ Giữa thiên hạ thái hòa/ Cho giảm mười vạn quân/ Vua tôi du ngoạn hồ Tả Vọng/ Lúc trả kiếm Thuận Thiên/ Giữa trời, mưa sấm nổi lên/ Rồi bất giác, bầu trời lại sáng trong/ Rùa vàng bơi lội trên hồ/ Trên trời xanh, từng đàn chim bay tới/ Các quan thảy đều vui cười/ Trăm họ hô câu vạn tuế/ Ca vang lời ca thái bình - hạnh phúc/ Từ cuộc du ngoạn ấy, viết một bài thơ (này)/ Ân trạch của vua ta thấm đến mọi nhà).

Bài thơ “Hoàn Kiếm hồ” có thật là của Trung Mục Vương Đinh Liệt? -0

Tranh vẽ vua Lê Lợi (1385 - 1433).

*

Nếu thật thế, thì đây quả là một tư liệu quý. Nó làm cho việc “hoàn kiếm” của Lê Lợi không chỉ là huyền thoại nữa, mà là chuyện có thật.

Tuy vậy, bài thơ có một câu cần giải thích và hai câu cần xét kỹ:

Câu thứ nhất: “Thập nhị niên đại định” (Mười hai năm (thì) định xong công nghiệp lớn). Ta biết, Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa vào Mùa xuân năm Mậu Tuất - 1418 ở Lam Sơn. Mười năm sau, năm Mậu Thân - 1428, cũng vào mùa xuân (3/1), tên giặc Minh cuối cùng buộc phải rời khỏi nước ta, khởi nghĩa hoàn toàn thành công - “Đại định”. Nhưng vì trước khi dựng cờ hai năm, năm Bính Thân - 1416, theo “Đại Việt thông sử” của Lê Quý Đôn (thế kỷ 18), thì Lê Lợi và 18 thân tín khác đã ủ mưu khởi nghĩa ở Hội thề Lũng Nhai và vì thế, “Thập nhị niên đại định” là có thể hiểu được.

Câu thứ hai: “Hoàng Đế phụng thiên mệnh” (Hoàng Đế vâng mệnh trời) thì khó giải thích, vì vào ngày 15/4 năm Mậu Thân - 1428, tại Điện Kính Thiên, Lê Lợi lên ngôi, chỉ xưng “Vương” chứ không xưng “Đế” (Thuận thiên thừa vận Duệ Văn Anh vũ Đại Vương). Chính Lê Lợi đã nói: “Những vị vua có công đức lớn như các vua Vũ, Thang, Văn... thời Tam Đại mà cũng chỉ xưng Vương thôi, huống chi trẫm tài đức mỏng manh, đâu dám nói đến Đế hiệu. Nay chỉ xưng Vương cũng đã là quá lắm rồi”. Thế nên câu thơ “Hoàng Đế phụng thiên mệnh” trong bài thơ của Đinh Liệt là không “chính danh”.

Câu thứ ba: “Quân thần ngoạn Tả Vọng” (Vua tôi du ngoạn hồ Tả Vọng) thì lại càng khó tin! Sử sách chép rằng, từ xa xưa, ít nhất là từ thời Lý Bí - Lý Bôn dựng nước Vạn Xuân, xưng “Đế” và chọn xây kinh thành thuở ban đầu ở cửa sông Tô Lịch (tức vùng Chợ Gạo quận Hoàn Kiếm bây giờ), thì kinh thành vốn đã có nhiều sông hồ.

Về sông, ví dụ là sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Thiên Phú, sông Kim Ngưu.

Về hồ, ví dụ là hồ Tây, hồ Lục Thủy. Hồ Tây là nơi Lý Nam Đế cho xây “Khai Quốc Tự” trên đảo “Kim Ngư” (đảo Cá Vàng), tiền thân của “Trấn Quốc Tự” sau này; còn hồ Lục Thủy là chỗ phình ra to nhất của một phân lưu sông Hồng, chảy từ mạn Hàng Than, Hàng Đào, Hàng Trống bây giờ xuống phía Nam, tràn qua các phố Bà Triệu, Hai Bà Trưng, Hàng Chuối ngày nay, rồi đổ ra bến Bình Than (đầu đường Nguyễn Du bây giờ) để gặp lại sông Hồng. Thế là, hồ Lục Thủy xưa còn gồm cả, còn trùm lên cả, hồ Hoàn Kiếm ngày nay.

Bài thơ “Hoàn Kiếm hồ” có thật là của Trung Mục Vương Đinh Liệt? -0
Hồ Hoàn kiếm, Hà Nội.

Bên hồ Lục Thủy, phía Tây, vào thế kỷ 11 (1056), Lý Thánh Tông cho xây “Sùng Khánh Tự” (chỗ Nhà Thờ Lớn bây giờ) với “Báo Thiên tháp”.

Hồ cũ Lục Thủy như vậy suốt các triều Lý - Trần - Hồ. Đến khi Lê Lợi ngự Đông Quan và trả gươm thì hồ mới có thêm cái tên “Hoàn Kiếm”.

Mãi đến đời Lê Trung Hưng (1533 - 1593), tức là đến thế kỷ 16, sau khi đuổi Mạc lên Cao Bằng, các chúa Trịnh mới dần dựng phủ chúa bên ngoài Hoàng Thành (vốn dành cho Vua Lê) và mới cho xây “Ngũ Long lâu”, “Thưởng Trì cung”, “Tả Vọng đình”... quanh hồ rồi đắp đường, ngăn hồ Lục Thủy làm hai để tiện qua lại giữa “Thưởng Trì cung” và “Ngũ Long lâu”. Phần hồ có “Tả Vọng đình” trên đảo Ngọc Sơn, được gọi là “Tả Vọng hồ”. Phần hồ còn lại được gọi là “Hữu Vọng hồ”. Thủy quân triều đình, từ đó chỉ luyện - duyệt ở “Hữu Vọng hồ”, chứ không luyện - duyệt khắp trên hồ Lục Thủy (hay Hoàn Kiếm) như trước nữa.

Thế rồi mãi đến giữa thế kỷ 19, Tự Đức (1847 - 1883) mới chính thức lấy cái tên “Thủy quân hồ” đặt cho “Hữu Vọng hồ”. Và, khi xây thành phố Hà Nội, người Pháp đã cho lấp hẳn “Thủy quân hồ” - “Hữu Vọng hồ”. Từ đó, toàn bộ “Lục Thủy hồ” chỉ còn là “Tả Vọng hồ”, tức hồ Hoàn Kiếm hiện nay. Trên bản đồ Pháp vẽ, hồ Hoàn Kiếm có tên Pháp là Lac de Hoan Guom.

Tóm lại, cái tên “Tả Vọng hồ” chỉ có từ thế kỷ 16.

Thế nên, Đinh Liệt (1400 - 1471), chỉ sống trong thế kỷ 15, không thể có câu thơ: “Quân thần ngoạn Tả Vọng” viết từ Trung Thu năm Mậu Thân - 1428 được!

Đinh Liệt là người rất tài giỏi và có công lớn với nhà Lê. Ông là “Khai quốc công thần”, từng trực tiếp chỉ huy cánh quân tập kích núi Mã Yên, chém Liễu Thăng tại trận; 70 tuổi, còn cùng Lê Niệm - cháu nội Lê Lai - thừa mệnh Lê Thánh Tông đi tiên phong, hạ thành Chà Bàn, bắt sống vua Chiêm là Trà Toàn; từng là Thái Sư phụ chính, từng là Tể Tướng đầu triều, được ban quốc tính (Lê Liệt) và được truy phong tước Vương (Trung Mục Vương)... Ông cũng là người quan trọng tâu lên Lê Thánh Tông vụ án oan Lệ Chi Viên để nhà vua xuống chiếu “chiêu tuyết” cho Nguyễn Trãi.

Vì có công lớn như thế, Đinh Liệt được vua Lê ban “Lộc điền” ở Nông Cống, dù ông quê ở Thọ Xuân. Vậy là thời gian trôi đi, “Dòng họ Đinh ở Nông Cống” dần hình thành và dài lâu đến sau này. Họ, có thể vì lòng yêu kính tổ tiên, đã làm ra bài thơ trên rồi sau nhiều đời, chính mình lại nhầm rằng, nó thuộc “Di cảo” của Đinh Liệt chăng?

Vả lại, chuyện “Trả gươm”, dù rất đẹp nhưng chỉ là truyền thuyết, nếu “Di cảo” lại viết: “Lê Sát xin cho chăng lưới bắt rùa để lấy lại kiếm thần nhưng Lê Lợi gạt đi”, thì lại càng khó tin!

Đỗ Trung Lai

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào OK9giaitri đăng nhập thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.