Bài thơ hay nhất về Thăng Long của Nguyễn Du

Sinh thời, Đại thi hào Nguyễn Du có năm bài thơ chữ Hán về Thăng Long, trong đó "Long thành cầm giả ca", tức "Bài ca người gảy đàn đất Long Thành" là nổi tiếng hơn cả. Bài thơ này cụ viết vào mùa xuân năm 1813, trên đường đi sứ Trung Quốc, đến nay, đã ngoài 200 năm.

  • Chuyện từ cô cháu gái xinh đẹp của đại thi hào Nguyễn Du
  • Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tả cảnh của đại thi hào Nguyễn Du

Mở đầu bài thơ là lời Tiểu dẫn của tác giả dài khoảng ba trăm từ, bằng văn xuôi, có những đoạn như sau: "Người gảy đàn đất Long Thành ấy không rõ họ tên là gì. Nghe nói thuở nhỏ nàng học đàn Nguyễn trong đội ngũ nữ nhạc ở cung vua Lê. Quân Tây Sơn kéo ra, các đội nhạc cũ kẻ chết, người bỏ đi, nàng lưu lạc ở chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng gảy đều là những khúc Cung phụng cho vua nghe, người ngoài không hề được biết, cho nên tài nghệ của nàng nổi danh hay nhất một thời.

42375569-53c6-4187-a9b5-08f639101d63.jpg -0
Tượng đại thi hào Nguyễn Du.

Hồi còn trẻ, tôi đến Kinh đô thăm anh tôi, ở trọ gần hồ Giám, cạnh đó các quan Tây Sơn mở cuộc hát lớn, con gái đẹp có đến vài chục người. Nàng nổi tiếng nhờ ngón đàn Nguyễn. Nàng hát cũng hay và khéo khôi hài, mọi người say mê, đua nhau ban thưởng, tiền thưởng nhiều vô kể... Sau đó vài năm tôi rời về Nam, mấy năm liền không trở lại Long Thành. Mùa xuân năm nay tôi phụng mệnh sang sứ Trung Quốc, đi qua Long Thành, các bạn mở tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ, có gọi tất cả vài chục nữ nhạc, tôi đều không biết mặt, biết tên, chị em thay nhau múa hát.

Rồi nghe một khúc đàn Nguyễn trong trẻo nổi lên, khác hẳn những khúc thường nghe, tôi lấy làm lạ, nhìn người gảy đàn thì thấy một chị gầy gò, vẻ tiều tụy, sắc mặt đen sạm, xấu như quỷ, áo quần mặc toàn vải thô bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi im ở cuối chiếu, chẳng hề nói cười, hình dáng thật khó coi. Tôi không biết nàng là ai, nhưng nghe tiếng đàn thì dường như đã quen biết, nên động lòng thương. Tiệc xong, hỏi ra thì chính người đàn bà trước kia đã gặp.

Than ôi, người ấy sao đến nỗi thế? Tôi bồi hồi không yên, ngửng lên, cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa nay. Người ta trong cõi trăm năm, những sự vinh nhục, buồn vui thật không lường được. Sau khi từ biệt, trên đường đi, cảm thương vô hạn, nên tôi làm bài thơ sau, để ghi mối cảm hứng".

Bài ca người gảy đàn đất Long Thành

Tên người đẹp, chẳng ai hay
Giỏi đàn, dân cứ gọi ngay cô Cầm
Trong triều trước, học nhiều năm
Khúc đàn Cung phụng tiếng tăm nhất đời
Ta từng gặp, thuở thiếu thời
Đêm bên hồ Giám tiệc vui, tình cờ
Tuổi đôi mươi, vẻ ngây thơ
Áo tươi màu đỏ, mặt phô sắc đào
Chơi đàn duyên dáng làm sao
Bàn tay uyển chuyển phả vào năm cung
Tiếng khoan gió thoảng rừng thông
Trong như tiếng hạc tầng không vọng về
Mạnh như sét đánh tan bia
Buồn như Trang Tích não nề ngâm nga
Nhạc trong đại điện Trung Hòa
Người nghe ngồi chật, thẫn thờ, mê man
Say sưa quan lính Tây Sơn
Chơi sang đêm ấy còn hơn vương hầu
Bọn Ngũ Lăng thấm vào đâu
Coi thường tiền bạc thi nhau thưởng tràn
Ngỡ như báu vật Tràng An
Trăm xuân đúc lại một nàng mà thôi.
Chuyện qua hai chục năm trời
Tây Sơn bại trận, ta thời vào Nam
Long Thành không dịp ghé thăm
Nói gì cô gái ca cầm ngày xa
Lần này Tuyên phủ vì ta
Mở bày tiệc tiễn, kỹ ca được mời
Đều là gái trẻ xinh tươi
Chỉ riêng cuối chiếu một người hoa râm
Nước da vàng vọt thất thần
Mặt mày phờ phạc không lần điểm tô
Nhìn người ấy, có ai ngờ
Giỏi đàn bậc nhất Kinh đô một thời.
Khúc xưa từng tiếng bồi hồi
Ta nghe tê tái, lệ rơi đáy lòng
Chuyện xưa, hai chục năm ròng
Người đêm hồ Giám tiệc tùng là đây?
Thời gian: thành chuyển, người thay
Nương dâu, bãi bể ai hay sự đời
Tây Sơn cơ nghiệp tan rồi
Chỉ còn sót lại một người kỹ ca
Trăm năm thấm thoắt trôi qua
Thương tâm chuyện cũ lệ nhòa áo khăn
Đầu ta bạc trắng ai bàn
Trách gì người đẹp dung nhan héo sầu
Mở trừng đôi mắt nhìn lâu
Gặp nhau chẳng nhận được nhau, thật buồn!

img_4634.jpg -1
Một tác phẩm dịch thơ Nguyễn Du của nhà thơ Vương Trọng.

Như chúng ta đã biết, Nguyễn Du tuy quê ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh nhưng ông sinh ra ở phường Bích Câu và lớn lên ở đất Thăng Long. Thân sinh của ông là Tả Thị lang Bộ Hình, rồi quan Tư đồ và sau cùng là Tể tướng Nguyễn Nghiễm. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần, quê ở Bắc Ninh. Năm 1757, triều đình điều Nguyễn Nghiễm về Thăng Long, và chính Thăng Long tạo nên mối lương duyên giữa Tả thị lang tuổi đã suýt soát năm mươi với cô gái Trần Thị Tần xuân xanh chưa đầy hai chục. Nghĩa là, nếu như không có Thăng Long thì không có mối lương duyên đó và Nguyễn Du sẽ không ra đời.

Chỉ vài lần về quê ngắn ngủi, nói chung, Nguyễn Du sống thời tuổi trẻ ở Thăng Long, cho đến năm 1786, ông rời Thăng Long về quê vợ ở Thái Bình cũng là năm Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long lần thứ nhất. Từ đó Nguyễn Du rất ít có dịp trở lại Thăng Long. Nếu như bài ghi chép “Một mối tình hận của tôi” nói về mối tình đầu và những câu lục bát đầu tiên của Nguyễn Du thời đi học ở Thăng Long, thì bài "Long thành cầm giả ca" chứa đựng nhiều lượng thông tin nhất về mối liên hệ của Nguyễn Du với Thăng Long sau năm 1786.

Theo lời Tiểu dẫn cũng như nội dung bài thơ, ta biết được rằng, khoảng năm 1793, từ quê vợ Thái Bình, Nguyễn Du lên Thăng Long thăm anh trai là Nguyễn Nễ trước làm quan trong triều Lê, nay giúp Tây Sơn. Nguyễn Du trọ gần hồ Giám, có chứng kiến cuộc “chơi sang” của quan lính Tây Sơn, xem tiền bạc như bùn đất trong một đêm xem đàn hát. Trong lời Tiểu dẫn có một câu: “Lúc đó tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm”.

Là em một ông quan triều Tây Sơn đi xem hát do quân Tây Sơn tổ chức, tại sao Nguyễn Du lại phải nấp trong bóng tối? Là vì Nguyễn Du không muốn ai nhận ra mình, một người không chấp nhận sự đổi thay của Thăng Long do quân Tây Sơn mang lại. Nguyễn Du dùng hình tượng người gảy đàn ở Long Thành, không chỉ nói về số phận của một người ca kỹ, mà muốn nói sự đổi thay của thời thế, đổi thay của Thăng Long qua các thời kỳ nhà Lê, Tây Sơn rồi nhà Nguyễn với nỗi tiếc nuối, giống như nội dung hai câu Kiều ông từng viết: “Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Trong lời Tiểu dẫn, Nguyễn Du còn viết: “Sau đó vài năm, tôi dời vào Nam và từ đó không trở lại Thăng Long nữa”. Ta biết rằng năm 1796, một năm sau khi vợ mất, Nguyễn Du đã đưa con trai tên là Nguyễn Tứ, khi đó mới vài tuổi về Nghi Xuân. Hai chữ “vào Nam” Nguyễn Du dùng là kể cả thời gian ông sống dưới chân núi Hồng Lĩnh cũng như thời gian làm quan dưới triều Gia Long mà ông ở Phú Xuân hoặc Quảng Bình. Như vậy là đến 20 năm Nguyễn Du không trở lại Thăng Long, kể từ năm 1793 đến năm 1813.

Đối với Nguyễn Du, “con người thi nhân” lấn át một cách triệt để “con người quan chức”. Trong 14 tháng ròng với cương vị Chánh sứ đi sứ Trung Quốc từ tháng 2 năm 1813 đến tháng 4 năm 1814, ông đã sáng tác tập thơ “Bắc hành tạp lục” gồm 132 bài, không có một bài nào kể chuyện thù tạc với cương vị chánh sứ, mà chỉ nói về cảm hứng của ông khi đến những vùng đất, con người ông gặp từ trong sách vở, và đặc biệt nói về nỗi khổ của những kiếp người. Trong bối cảnh bài thơ "Long thành cầm giả ca" cũng vậy, đó là hôm Tuyên phủ thành Thăng Long mở tiệc tiễn ông đi sứ, thế mà thơ ông không hề nói về chuyện đó, lại chỉ nói về thân phận một người đàn bà gảy đàn với nỗi cảm thương vô hạn. Nói rằng Nguyễn Du “đứng về phe nước mắt” trong sáng tác thi ca cũng không nhầm.

Trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, NXB Hà Nội có ấn hành tuyển tập gồm những bài thơ hay viết về Thăng Long- Hà Nội từ thời nhà Lý. "Long thành cầm giả ca" cùng với hai bài thơ khác có chung đầu đề “Thăng Long” tạo nên chùm thơ hay nhất viết về đề tài này trong một ngàn năm qua.

Vương Trọng

Các tin khác

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Ấn tượng Nhật Tuấn

Ấn tượng Nhật Tuấn

Nhật Tuấn người Hà Nội gốc, nhưng tính cách khá mạnh mẽ. Không bia rượu, bài bạc, thuốc lá, cả cuộc đời Tuấn gọn trong ba thứ: Văn chương, bạn bè và… người đẹp. Anh thú nhận, mình là kẻ lăng nhăng, yêu đương dắt dây. Không che đậy, giả tạo. Văn chương là con người anh.

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026

Khi một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong Ok9 cab trò chơi casino phổ biến, trong một cộng đồng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Cái roi trong các không gian Ok987 ưu đãi độc quyền

Cái roi trong các không gian Ok987 ưu đãi độc quyền

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour Ok986.com Nổ hũ, thể thao, casino, bắn cá quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng OK9giaitri đăng nhập nội tâm? Trong bối cảnh ấy, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.