Ba thi nhân “bất bình” của Thơ Mới

Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sĩ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

  • Thi nhân đoản thơ, đoản mệnh
  • Thi nhân Ngô Như Mai: Hòn than vẫn cháy dạ này như xưa

“Gió lên về gác Sơn Nam/ Áo thơ gió thổi, đèn tàn gió lay/ Ý thơ lộng gió còn bay/ Ba ta, ba chiếc bóng gầy, đèn khuya/ Đêm dài tù túng đi về/ Ngọn đèn trang giấy cùng chia cái nghèo/ Dầu hao, bấc lụi, gió vèo/ Cháo rau ấm bụng thơ gieo ấm lòng/ Gác Sơn Nam, gác đèo bòng/ Có ba mái tóc bềnh bồng bên nhau/ Gió đời chưa nổi biển dâu/ Gió trời thổi mãi mái đầu nằm mơ”.

Bài “Gió gác Sơn Nam” của thi sĩ Trần Huyền Trân, in năm 1943, ngay dưới nhan đề tác phẩm có chua dòng chữ: “Kỷ niệm với Thâm Tâm và Nguyễn Bính”. Lẽ dĩ nhiên, dòng chữ này chính là yếu tố quan trọng nhất để ta có căn cứ mà cho rằng “ba chiếc bóng gầy”, “ba mái tóc bềnh bồng” trong bài thơ chẳng phải ai khác ngoài ba nhà thơ đã có tên trong “Thi nhân Việt Nam”: Trần Huyền Trân, Thâm Tâm và Nguyễn Bính.

Theo hồi ức của một vài thi sĩ tiền chiến, đây là ba người bạn rất thân, họ thường nhóm nhau ở vùng Cống Trắng, Khâm Thiên, hoặc sau ga Hà Nội hồi những năm 1940. Không những thế, bằng một mảng tác phẩm rất riêng của mình, họ còn tự tách biệt ra thành một phái trong Thơ Mới: phái “áo bào gốc liễu”.

Ba thi nhân “bất bình” của Thơ Mới -0
Từ trái qua: Nhà thơ Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm.

Cụm từ “áo bào gốc liễu”, ngay lập tức gợi cho người ta ấn tượng về hình ảnh một đấng trượng phu, một tráng sĩ, một anh hùng của thời chinh chiến nào đó đã lùi xa trong quá vãng. Hình ảnh kiêu hùng, và trong một số trường hợp, phảng phất nét kiêu bạc của một cá nhân xuất chúng vượt lên trên nhân quần, cô độc giữa những ngổn ngang của thời cuộc. Con người kiểu ấy xuất hiện khá đậm trong thơ của các thi nhân thuộc dòng thơ biên tái đời Đường, và phần nào đó, trong thơ Lý Bạch. Thơ Việt Nam thời trung đại có vẻ như cũng không nhiều lắm hình ảnh nhân vật loại này.

Thế mà lạ, trong Thơ Mới lãng mạn, khi đại đa số các nhà thơ cởi mở cõi lòng để đắm say với ái tình chàng chàng thiếp thiếp, để tận hưởng cảnh thiên nhiên đẹp và những giấc mơ viễn xứ, hoặc ít ra, để trốn vào làng quê Việt với dăm ba nét xưa cũ còn sót lại trong cuộc thay da đổi thịt lớn lao, thì con người “áo bào gốc liễu” lại xuất hiện, như một nghịch phách, qua thơ Nguyễn Bính - đặc biệt là qua thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân - và khiến người ta phải chú ý. Chú ý vì cái dư vị cổ kính mà các tác giả đó đã tạo được qua thể “ca”, “hành” mượn từ cổ thi. Chú ý vì giọng điệu ngang tàng và phẫn hận trong lời thơ, một giọng điệu quả thực không mấy phổ biến trong Thơ Mới.

Trước hết, hãy nói tới Nguyễn Bính, tác giả vốn được mặc định như là “thi sĩ chân quê”, như là người được sinh ra để cất lên những khúc hát thương cho làng quê Việt đang có nguy cơ bị xâm thực và biến mất trước ngọn triều thành thị hóa. Giọng thơ Nguyễn Bính là giọng thơ thương cảm, “mùi mẫn”, hợp với chủ nghĩa mủi lòng của đại đa số độc giả Việt Nam.

Thế nhưng, ở bài thơ có tên “Bài hành phương Nam”, viết năm 1943, Nguyễn Bính cho thấy một giọng thơ đã khác đi rất nhiều. “Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?/ Cốt nhất vui cười trọn tối nay/ Rẫy ruồng châu ngọc thù son phấn/ Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay!”. Đó là hình ảnh của một anh hùng giữa đám quần thoa, một anh hùng đang phóng túng hình hài trong cơn bế tắc tinh thần. Thậm chí có thể nói, đó là hình ảnh “lộn trái” của người anh hùng trong cổ thi: “Hỡi ơi, Nhiếp Chính mà băm mặt/ Giữa chợ ai người khóc nhận thây?/ Kinh Kha quán lạnh sầu nghiêng chén/ Ai kẻ dâng vàng, ai biếu tay?/ Mơ gì Ap Tiết thiêu văn tự/ Giày cỏ, gươm cùn, ta đi đây!”.

Phá sản trong nỗ lực tìm kiếm sự đồng hội đồng thuyền từ những nhân vật anh hùng của nước Trung Hoa thuở trước, người “anh hùng” Việt Nam thời tư sản hóa rốt cuộc phải cay đắng đối mặt với tình thế của mình: “Ta đi nhưng biết về đâu chứ?/ Đã dấy phong yên khắp bốn trời/ Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ/ Uống say mà gọi thế nhân ơi/ Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ/ Ta với nhà ngươi cả tiếng cười/ Dằn chén hất cao đầu cỏ dại/ Hát rằng phương Nam ta với ngươi...”. Đáng tiếc, những bài như “Bài hành phương Nam” là cực hiếm trong toàn bộ thi nghiệp của Nguyễn Bính.

Với Trần Huyền Trân, có lẽ nên nói rằng đó là tác giả có cái bút danh “đượm mùi váy áo” nhưng lại sở hữu một giọng thơ khá rắn rỏi, gân guốc. Hoài Thanh, khi làm “Thi nhân Việt Nam” vào năm 1941, mới chỉ ghi nhận Trần Huyền Trân như là tác giả của “những vần thơ hiền lành và ít nói yêu đương".

Thật lạ, chỉ cần đọc một bài như “Độc hành ca” (1940) là sẽ thấy Trần Huyền Trân không “hiền lành” chút nào: “Giao tình tợp chén chiêm bao/ Ngựa Hồ thôi gió bấc nào đạp chân/ Đây người áo đỏ tầm xuân/ Đấy đi tang trắng mấy lần trùng quan/ Không dưng rét cả dây đàn/ Này cung dâng áo ngự hàn là đây/ Nhớ xưa cùng dỗ bụi giầy/ Vỗ đùi ha hả thơ mày rượu tao/ Say đời nhắm lẫn chiêm bao/ Thơ ra miệng dại, rượu vào mắt điên”. Đây đích thị là khẩu khí của một hào khách ngang tàng, lấy giang hồ làm nhà, lấy bằng hữu làm vui, coi tiếng “khà” thích khẩu còn hơn cả trùng trùng danh lợi.

Nhưng, cũng rất dễ nhận thấy ở “Độc hành ca” cái cảm thức về sự bế tắc, tù túng, ngột ngạt, không lối thoát: “Nẻo về chật chội áo cơm/ Dặm đi động lại từng cơn lá rừng/ Lòng ta không sóng không dừng/ Thơ vang lại vướng mấy tầng cửa quan”. Bởi thế, rất logic, tác giả đã kết bài thơ của mình bằng những câu chất chứa đầy tâm trạng phẫn hận, những câu thơ như nhỏ máu: “Chiều nay nhấc chén lên môi/ Không dưng tưởng nhắp máu người tanh tanh/ Khóc nhau ném chén tan tành/ Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ/ Cố nhân, ới hỡi người xưa/ Dọn đi tâm sự, đây mưa về rừng”.

Tới năm 1943, trong bài “Say ca”, Trần Huyền Trân đã chuyển hóa sự phẫn hận ấy thành tiếng cười gằn, cay đắng, kiêu bạc: “Mắt trong ví chọc cho mù/ Thì đen bạc đấy cũng ừ vàng son/ Cười xòa giờ vẫy nước non/ Tay chừng cũng ngượng chẳng còn gió bay/ Này thôi đấy! Này thôi đây/ Này thôi kia nữa, hớp này thì thôi/ Men lên ví chuyển lại thời/ Lũ ta đội ướt đêm dài với nhau”. Nhưng trong tiếng cười cay đắng kiêu bạc ấy, hình như đã ẩn chứa một tâm thế sẵn sàng hành động (không nên quên rằng chính vào năm 1943, nhà thơ Trần Huyền Trân đã tham gia Việt Minh và Hội Văn hóa cứu quốc).

Thâm Tâm, nhân vật cuối cùng trong phái “áo bào gốc liễu”, là tác giả đã quá nổi tiếng với bài “Tống biệt hành”, nổi tiếng đến mức đôi khi làm người ta quên mất rằng ông còn là tác giả của những bài thơ rất đặc sắc khác, như “Tráng ca, “Vọng nhân hành”, “Can trường hành” (đều viết trong năm 1944).

Đọc thơ Thâm Tâm, ở những đoạn như “Phiếm du mấy chốc đời như mộng/ Ném chén cười cho đã mắt ta/ Thà với mãng phu ngoài bến nước/ Uống dăm chén rượu quăng tay thước/ Cái sống ngang tàng quen bốc men” hay: “Thi với người nằm say bóng liễu/ Thi với người chờ mong kẻ rượu/ Lòng thênh thênh nhẹ gió thu sơ/ Nghĩa khí ngàn năm gió chẳng mờ” (Can trường hành), ta không khỏi liên tưởng tới thi tiên Lý Bạch với những “Tương tiến tửu”, “Hiệp khách hành” lưu danh thiên cổ: cũng thái độ khinh thế ngạo vật ấy, cũng hào khí bừng bừng ấy, không khác.

Từ một phía khác, khác với Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân, có thể thấy khá rõ ở thơ Thâm Tâm nổi lên chủ yếu không phải là sự cay đắng, phẫn chí, mà là một tinh thần sục sôi hành động, một cảm hứng xóa cũ tạo mới không gì ngăn được.

Bình bài “Tống biệt hành” (chắc chắn là được viết trước năm 1941), Hoài Thanh nói rằng nó “đượm chút bâng khuâng khó hiểu của thời đại”, nhưng ở các bài thơ sau này của Thâm Tâm thì chẳng có gì bâng khuâng khó hiểu cả.

Hãy đọc: “Nện cho vang tiếng chuông chiều/ Thù đem sức sớm đánh kêu trống đình/ Thở phù hơi rượu đua tranh/ Quăng tay chén khói tan thành trời mưa/ Dặm dài bến đón bờ đưa/ Thuyền ai buồm lái giúp vùa vào nhau/ Kìa kìa lũ trước dòng sau/ Trăm sông rồi cũng chung đầu đại dương” (Tráng ca); và đọc: “Sông Hồng chẳng phải xưa sông Dịch/ Ta ghét hoài câu nhất khứ hề/ Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu/ Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê/ Ơi ơi bạn tác ngoài trôi giạt/ Chẳng đọc thơ ta tất cũng về” (Vọng nhân hành).

Những câu thơ ấy, ở bên trong cái vẻ ngoài mang dáng dấp cổ thi của nó, chính là những câu thơ cách mạng, theo nghĩa: thơ về và vì một sự thay đổi thật lớn lao. (Xin lưu ý đến thời điểm ra đời những bài thơ này của Thâm Tâm Nguyễn Tuấn Trình: năm 1944, đêm trước của Cách mạng Tháng Tám).

Trên phương diện văn học sử, thơ của phái “áo bào gốc liễu” có thể không phải bộ phận tác phẩm thực sự quan trọng của phong trào Thơ Mới. Thế nhưng, nó độc đáo, nó góp phần làm thành sự đa dạng cho diện mạo thơ Việt Nam trước năm 1945, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể có nhận thức đầy đủ về một giai đoạn trong thơ hiện đại nếu gạt nó ra khỏi sự quan tâm. Công của phái thơ “áo bào gốc liễu”, có lẽ, là đã nâng cái bất bình lên thành thơ, mang đến cho cái bất bình một chiều kích mỹ học nào đó. Đúng như một câu của Trần Huyền Trân trong bài “Độc hành ca”: “Nghe vang vỡ cái bất bình thành thơ”.

Hoài Nam

Các tin khác

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Chuyện kể dưới chân núi Khau Rịa

Dưới chân núi Khau Rịa cao sừng sững, ngôi đền Nghĩa Đô cổ kính tọa lạc vững chãi và uy nghiêm, xa xa là dòng Nặm Luông hiền hòa chảy uốn quanh những bản làng. Từ bao đời nay, đồng bào Tày Nghĩa Đô từ bao thế hệ vẫn lưu giữ và kể cho nhau nghe câu chuyện về quá trình hình thành, bảo tồn ngôi đền thiêng của bản làng, gắn với tín ngưỡng thờ Chúa Bầu vùng Tây Bắc.

Ấn tượng Nhật Tuấn

Ấn tượng Nhật Tuấn

Nhật Tuấn người Hà Nội gốc, nhưng tính cách khá mạnh mẽ. Không bia rượu, bài bạc, thuốc lá, cả cuộc đời Tuấn gọn trong ba thứ: Văn chương, bạn bè và… người đẹp. Anh thú nhận, mình là kẻ lăng nhăng, yêu đương dắt dây. Không che đậy, giả tạo. Văn chương là con người anh.

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Triết lý về sự “hẳn hoi”!

Theo nghĩa từ điển, “hẳn hoi” là một tính từ (khẩu ngữ) được dùng với nghĩa “có được đầy đủ các yêu cầu, theo đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi”. Có thể hiểu thêm, đó là sự “tươm tất, đàng hoàng”; là sự “đúng đắn, tử tế”; là sự “cẩn thận”; là sự “trước sau như một”, “đến nơi đến chốn”; là một “sự thật”…

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Sài Gòn lê la chợ không đàn bà

Với lịch sử hơn 300 năm hình thành, Sài Gòn - TP Hồ Chí Minh có những câu chuyện mãi đến ngày hôm nay vẫn còn vọng vang trong tâm khảm thị dân đất này. Trong không gian náo nhiệt sầm uất của thành phố không ngủ lại tồn tại những điều đời thường một cách bình dị.

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026

Nguyễn Trãi, người phát huy và bảo vệ hồn cốt văn hóa Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026

Khi một Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đã nhận biết được về nền văn hóa của mình và cho mình thì có thể nói rằng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đó đã bước vào thời kỳ chín muồi, về ý thức Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Và, từ đó, văn hóa chính là chất keo kết dính mọi thành viên trong Ok9 cab trò chơi casino phổ biến, trong một cộng đồng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 trên một địa bàn nhất định. Văn hóa đã biến thành lực lượng vật chất to lớn bảo vệ chủ quyền quốc gia: văn hóa nâng cao địa vị của mỗi người công dân trong cộng đồng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Thái Hải - cả làng “cơm ăn chung nồi, tiêu tiền chung túi”

Tôi đã rất tò mò khi được các đồng nghiệp tại Thái Nguyên giới thiệu về một ngôi làng với bản sắc Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Tày, được duy trì theo phương thức “tự cung, tự cấp, tự sản, tự tiêu”. Ở đó, cả một cộng đồng hàng chục gia đình “ăn cơm chung nồi, tiêu tiền chung túi” song vẫn sống đoàn kết, hạnh phúc và mãn nguyện với những gì đang có.

Giấc mơ màu lính

Giấc mơ màu lính

Ngoại đã đi thật xa. Lâu rồi. Có thể về chốn cố quận mịt mùng trong con nước Phú Ninh mênh mênh. Cũng có thể về miền mây trắng nào đó bung biêng trên bầu trời. Hoặc cũng có thể về miền xanh thẳm xa xôi, nơi đó ngoại đứng tiễn đoàn quân trùng trùng ra trận, trong đó có những đứa con của mình. Tôi hay mơ về ngoại, những giấc mơ dài.

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Danh nhân Đậu Vĩnh Trường: Danh tướng và huyền tích bất tử

Hoa Viên xưa, nay thuộc xã Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, là một làng cổ nằm dưới chân núi Hồng Lĩnh, nơi hội tụ nhiều giá trị lịch sử - văn hóa đặc sắc của vùng đất phía Bắc Hà Tĩnh. Đây không chỉ là địa bàn cư trú sớm của cư dân Việt cổ với di chỉ khảo cổ nổi tiếng Phôi Phối - Bãi Cọi, mà còn là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, lưu giữ hệ thống đình, chùa, miếu mạo cùng nhiều địa danh gắn với các cuộc chiến tranh thời Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn như Trạng Đội, Cồn Sâu Bắn, Trạng Vạn.

Cái roi trong các không gian Ok987 ưu đãi độc quyền

Cái roi trong các không gian Ok987 ưu đãi độc quyền

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Xuôi dòng sông Gâm

Xuôi dòng sông Gâm

Dòng sông Gâm từ xứ sở Lâm Bình xuôi về vùng đất Na Hang (Tuyên Quang) sở hữu hàng trăm hòn đảo lớn nhỏ trên mặt hồ, những khu rừng nguyên sinh với thảm thực vật vô cùng phong phú và làn nước trong xanh tựa ngọc. Với khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình, đất trời, non nước giao hòa, nơi đây, từ lâu được xem như “Vịnh Hạ Long” trên núi, “Nàng tiên xanh” giữa đại ngàn Đông Bắc.

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Phố cổ Hà thành và những điều kỳ lạ

Biết tôi có ý định tìm hiểu về phố cổ Mã Mây (Hà Nội), ông bạn cùng học đại học Văn hóa năm xưa tên là Đạt, nhà ở phố này, gọi điện với giọng vồn vã: “Ông lên nhà tôi, văn phòng Tour Ok986.com Nổ hũ, thể thao, casino, bắn cá quãng giữa phố nhé, tôi sẽ đưa ông đi khắp phố, tha hồ tìm hiểu…Phố này nhiều cái kỳ lạ lắm!”

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng OK9giaitri đăng nhập nội tâm? Trong bối cảnh ấy, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.