Năm 2011, cuốn sách “Tuyển tập mới 1966–1987” của ông, được đặc biệt in tới 40 nghìn bản và phát hành miễn phí trong khuôn khổ “Đêm sách toàn cầu” (cùng với “Tình yêu trong thời thổ tả” của nhà văn Columbia, Gabriel Garcia Marquez và “Atlas đám mây” của nhà văn Anh David Mitchell). Ngoài Heaney ra, năm đó chỉ có một nhà thơ nữa được hưởng vinh dự này là nữ sĩ
Seamus Heaney sinh ra ở gần Mossbawn tại Derry, Bắc
Năm 1957, Heaney vào học văn học và tiếng Anh tại Đại học Hoàng gia
Hiệu trưởng trường này khi đó là nhà văn Michael McLaverty (1904-1992), người đã dẫn dắt Heaney tìm hiểu sâu hơn về thơ của một trong những thi sĩ hàng đầu ở
Không lâu sau đó, tới năm 1966, tập thơ đầu tay thực sự dày dặn của Heaney Cái chết của nhà tự nhiên học đã được Nhà xuất bản Faber and Faber cho ra mắt độc giả. Tác phẩm này đã được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt và ngay lập tức đã được trao không chỉ một giải thưởng văn học, trong đó có giải thưởng danh giá mang tên nhà văn Somerset Maugham năm 1968.
Cũng trong năm 1966, Heaney đã được cử làm giảng viên văn học Anh tại Đại học Hoàng gia
Cũng như hai tập thơ trước, Hết đông bộc lộ tới tận cùng hai mô típ luôn bám riết thi ca của Heaney: cái chết và đất đai. Đất đai như biểu tượng của số phận, như nền móng và khởi nguyên của mọi sự, nơi hòa quyện đổ vỡ và tái tạo, bình yên muôn thuở và sinh nở tái hồi…
Cũng từ năm 1972, Heaney chuyển tới sống tại vùng ngoại ô Sandymounth của thành phố Dublin, thủ đô của nước cộng hòa Ireland, rời bỏ hẳn vùng đất quê hương hiện giờ vẫn nằm dưới quyền quản lý của London. Cũng phải nói rằng, sự việc này cũng đã là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài hàng thập niên ở Bắc
Cũng trong năm 1975, ông xuất bản tập thơ thứ tư của mình Miền Bắc. Năm 1976, ông trở thành giảng viên chính về tiếng Anh tại Carysfort. Tập thơ tiếp theo của ông Việc đồng được xuất bản năm 1979. Năm 1982, Heaney tới Đại học Harvard giảng dạy về mỹ học. Tới năm 1984, nhà thơ được phong hàm giáo sư. Năm 1989, Heaney được bầu làm giáo sư thi ca tại Đại học
Trong suốt các khoảng thời gian đó, những tập thơ tiếp theo như Hòn đảo sám hối (1984), Ngọn đèn sơn tra (1987)… ngày càng củng cố danh tiếng của ông không chỉ ở
Khi trao giải Nobel cho ông, Viện hàn lâm Thụy Điển đánh giá cao 9 tập thơ của ông ở “vẻ đẹp trữ tình lớn lao, chiều sâu thẩm mỹ đã tôn vinh những phép lạ của đời thường và của quá khứ sống động”… Thơ Heaney không tách rời khỏi hiện thực éo le tới đau lòng ở mảnh đất đã sinh ra ông. Nhiều bài thơ của ông được coi là nơi lưu giữ ký ức về biển máu đã đổ xuống ở đó…
Là một người
Trong các phát biểu của mình, Heaney luôn nhấn mạnh rằng ông là một người
Trước khi được nhận giải Nobel, Heaney từng được Viện hàn lâm Văn học Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 Hoa Kỳ trao giải E.M.Foster, nhưng đối với ông, giải thưởng quý giá nhất lại là giải thưởng do Viện hàn lâm Ireland trao tặng. Heaney là người
Heaney cảm thấy mối giao hòa đặc biệt nồng hậu với những nhà thơ Nga như Joseph Mandelstam và Joseph Brodsky (cuối đời đã trở thành nhà thơ Mỹ). Trong bản tuyên dương công trạng dành cho ông của Viện hàn lâm Thụy Điển có nhắc: “Chính kinh nghiệm của Mandelstam và những nhà văn khác trong thế kỷ XX đã giúp cho Seamus Heaney đi tới kết luận rằng, nhiệm vụ của nhà thơ là bảo vệ cái đẹp, đặc biệt trong những thời mà các chế độ độc tài tiêu diệt nó”. Về Brodsky, Heaney coi ông như một “thiên tài thơ”.
Ông nói: “Dù tôi không đọc được bằng tiếng Nga các tác phẩm của Brodsky, nhưng trong tất cả các nhà thơ mà tôi được gặp hay nghe danh, Brodsky có trí tuệ thi ca lớn nhất”. Năm 1990, Brodsky đã viết tặng Heaney bài thơ Tôi thức giấc vì tiếng hải âu ở
Trong những năm cuối đời, sức khỏe của Heaney đã bị suy giảm nghiêm trọng. Tuy nhiên, nhà thơ vẫn không chịu sống tách biệt khỏi công chúng. Giữa tháng 8 vừa qua, ông còn gắng sức tới tham dự liên hoan âm nhạc tại thành phố quê hương
| Seamus Heaney sống đoạn bờ đá này run rẩy thâu đêm tìm củi và nhóm lửa rồi đặt nồi lên như cả một bầu trời hòn đảo bỗng tan tành như sóng. Mảnh đất ta bám lấy trong khoảnh khắc tuyệt vọng mới ngỡ thành đất thôi. Thực ra đó chỉ là ảo giác. Ngọn đèn sơn tra Ánh sáng muộn sơn tra Cháy vào đông gai góc. Chùm đèn chẳng làm ai lóa mắt Nhưng kêu gọi ai ai cũng phải giữ gìn Ngọn bấc khiêm nhường tự lập. Đôi khi giữa giá băng hơi thở Nó bỗng như thành Diogenes lãng tử Đốt đuốt giữa ban ngày Tìm con người khắp chốn. Trên cành gầy ngọn đèn vươn run rẩy Soi chăm chú vào anh Và ta run lên trước cái nhìn này Trước cái gai góc lấy từ tay ta máu Để thử, trước màn hình Soi rọi ta rồi mới thả ta qua. Những đứa trẻ đường sắt Lũ chúng tôi leo lên ngọn đồi đường sắt cắt qua Và ngang tầm mắt hiện ra trắng lòa những quả sứ Trên những cột điện tín và những đường dây liên tục sôi lên. Chúng vươn mình đi xa rỡ ràng, uyển chuyển, Sang tây, sang đông, thăm thẳm muôn trùng, Én đậu lên làm chúng dập dờn. Lũ chúng tôi còn quá bé và quá ư ít hiểu, Chúng tôi ngỡ lời chu du theo dây Trong bị ảo mờ những giọt mưa lóng lánh. Trong những hạt giống ánh sáng này đang phản chiếu Bầu trời, những đường ray lấp lóa và chúng tôi Tất cả đều hóa thành nhỏ xíu vô biên như thể Dễ dàng chui lọt lỗ kim. Trong tổng đợi chờ 1 Ta từng sống trong quốc gia giả định Dưới những đám mây quy phục giăng đầy. Ta luôn thở vắn than dài: “Đành vậy!” Và hàng ngày tụng đi tụng lại câu kinh “Xin phép!”. Mỗi năm một lần ta họp lại ngoài đồng Giữa ngổn ngang cảnh trí Và đám trẻ hát đồng ca thật đều Thứ tiếng cũ giờ mấy ai hiểu biết. Nhà diễn thuyết, khổ ải vì Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, Thống kê bao nhục nhã, đau hờn Mà từ lâu ta thực ra quen chịu; Tất cả chỉ là nghi lễ suông thôi. Rồi quốc ca bất khuất vang lên Báo hiệu hết mít tinh và thế Ta ngoan ngoãn về nhà giữa hai hàng cảnh sát Đang chán chường vì phải làm thêm. 2 Nhưng ai ngờ, bất chợt đổi thay. Sách ai đọc đêm đêm ngoài bếp. Những thanh niên hẳn có thể cả đời Gà gật bên nghé ọ, Họ đã tìm ra mục tiêu và đã bắc cầu Qua vũng lầy những quy định thành văn, Sau đấy mở con đường vững chắc. Xuất hiện ngữ pháp của các mệnh lệnh thức, Xuất hiện thế hệ thẳng tay gạt bỏ Mọi câu giả định trên đời Và rút phép thông công như tà giáo Thói cam chịu vẫn được tụng ca bao năm của chúng ta Và cả những khẩn cần de profundis* Những trí tuệ mới, hình thành Như xà beng, kiên quyết và thẳng thắn. 3 Sức lực cũ đã qua ngày đoạn tháng Tương lai đang nảy mầm lên. Lời lẽ từng an ủi ta, trong lúc Sống dưới cảnh đọa đầy, giờ lại Đâm vào vai tôi cái nanh giận dữ Và tôi đứng ra đầu gió lốc Dưới những quầng mây xám xịt đã hơi Rạng lên nhờ những tia chớp lóe Và tôi nghe thấy vang lên tiếng búa Đóng đinh vào ván loan tin Người dựa vào tiếng nói bản năng, Người dựa vào các động từ trần thuật Và các hành động của mình, sẽ nhổ neo Ngay từ tiếng mưa rào thứ nhất. Những hạt mưa đá 1 Má tôi giật mình vì chạm những hạt mưa đá bất ngờ gõ mặt đường nhảy nhót. Khi chợt rõ ra, bí ẩn nhạt nhòa đã trốn đi đâu, cơ hội mới, để mặc tôi đối diện. Tôi nặn thành cục tuyết tí hon Cái nóng hổi giữa ngón tay đang chảy, như những dòng này tôi đang nâng niu từ cái hiện hữu dần tan bùng thiêu đốt trước khi biến mất. 2 Cần tính sổ cho xong cùng đám trẻ tinh nghịch mùa đông, cần nhớ lại cảnh chúng tới tấp đập vào cửa lớp như cây thước kẻ của thầy đập xuống ngón tay cảnh chúng hiện ra lấp lánh tuyệt vời để chỉ phút sau hóa thành nước bẩn. Thomas Traern từng có bông kim cương của nó như biểu tượng dị thường, còn chúng ta, mưa đá hằn vết bỏng và đôi tay bảo toàn của Eddie Diamond vĩ đại không hề sợ tầm ma 3 Mưa đá, giàn nho, núm vú căng phồng đàn ong mật, vết đốt, cái đau thân quen, cấm kị khoảnh khắc tắt mưa rào ai vô hình nhắn nhủ tôi: Gắng đợi! Đợi bao lâu? Sau bốn mươi năm Tôi sẽ hiểu đó đã là linh cảm mọi sự sẽ xảy ra hơi thở này phóng khoáng khi nhìn thấy phi thường ánh sáng và chiếc ôtô mở cần gạt kính êm ái trườn qua để lại trên bùn dấu hoa văn thật rõ. |