Trả nợ rừng!
Dừng lại trên con đường đi vào tiểu khu 1765 thuộc xã Đắk Nia, ông KTiêng (Đội trưởng đội quản lâm bon NJiêng và Srê Ú) nói: “Bên tay trái là khu rừng bị người Mông xâm canh, còn bên tay phải là khu rừng thiêng của đồng bào người Mạ chúng tôi đó. Cả xã không còn bao nhiêu rừng nữa, còn giữ được rừng thiêng là may rồi”.
Rồi KTiêng chợt trầm ngâm: “Trước đây, chúng tôi cũng đi phá rừng như người Mông vậy. Đó là lúc mọi người xem việc phá rừng, khai thác gỗ rừng là chuyện hiển nhiên, không ai nghĩ đến vấn đề tác hại lâu dài về môi trường sinh thái và tài nguyên của quốc gia”. Cái tên “làng lâm tặc” cũng ra đời từ đó và theo gót chân trần của họ đi khắp núi rừng…
Trước đây, hơn 140 hộ dân của 2 bon Srê Ú và NJiêng đều sống dựa vào phá rừng. Hàng ngày, từ trẻ con cho tới người lớn tập trung thành từng đoàn trang bị cưa, rìu, dao rựa, súng săn… đi hàng chục cây số từ xã Đắk Nia về “bon cũ” để “giết rừng”. Những cánh rừng yên ả không mấy chốc đã trở thành những bãi tro tàn, trơ trọi không còn lấy một bóng cây để ngồi tránh nắng. Cuộc sống của họ chẳng bớt nghèo, con cái không được học hành, mùa màng xác xơ do thiếu bàn tay chăm sóc. Đã vậy, đất rừng khai hoang đến đâu, mưa lũ xói mòn đến đó. Cây lúa, cây ngô không mọc nổi… khiến cuộc sống người dân nơi đây luôn trong cảnh bần cùng, khốn đốn.
Khi chỉ còn lại một khu rừng thiêng ít ỏi, họ mới sực tỉnh. Đến lúc này, người Mạ cư trú ở đây mới cảm thấy lo sợ bị thần linh trừng phạt vì đang để mất rừng. Trưởng bon, già làng bèn tập hợp mọi người lại và bàn cách giữ “rừng thiêng” cha ông. Ngày 14/9/2007, cả 2 bon Srê Ú và NJiêng đã làm đơn xin nhận khoán bảo vệ rừng cộng đồng. Đến đầu năm 2009, thị xã Gia Nghĩa đã giao khoán 14,3ha ở tiểu khu 1765 thuộc xã Đắc Nia và huyện Đắk Glong đã giao 365ha ở tiểu khu 1750 (xã Đắk Ha), 1751, 1766 (xã Quảng Khê) cho cộng đồng 2 bon bảo vệ. Từ đó, cả “làng lâm tặc” tự nguyện ký vào bản cam kết đoạn tuyệt việc phá rừng, trở thành bon đi tiên phong thành lập mô hình quản lý rừng cộng đồng của địa phương.
33ha keo mới trồng bị người Mông lấn trồng mì.
Nỗi niềm người giữ rừng!
Khi được giao rừng, 2 bon đã thành lập đội quản lâm gồm 6 người để tuần tra bảo vệ rừng. Hơn 140 hộ dân 2 bon được chia thành lập 4 tổ cộng đồng (mỗi tổ hơn 30 hộ gia đình) nhận khoán bảo vệ rừng. Từ đó đến nay, đội quản lâm đã không ít lần phải đối đầu với lâm tặc. Máu của họ nhiều lần đã đổ trong cái điệp khúc truy kích “lâm tặc” và bị “lâm tặc” phản kích trong các tiểu khu giáp ranh. Từ năm 2009 đến nay, họ đã tịch thu hơn 40m3 gỗ và hàng chục phương tiện phá rừng như máy cưa, xe công nông, xe máy, dao rựa… nộp cho ngành chức năng.
“Nhưng mấy tháng trở lại đây, Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP tuần tra của chúng tôi gặp khó khăn. Trong khi đó, hơn 33ha rừng keo lá tràm người dân 2 bon trồng năm ngoái đã bị hàng chục người Mông chặt bỏ, trồng mì”. Nói rồi, anh Ksiêng (một thành viên khác của đội quản lâm, hiện đang sống ở chốt canh giữ để bảo vệ rừng) dẫn chúng tôi ra chỗ bị người Mông xâm canh. Giữa bạt ngàn rừng cây cháy sém và bị đốn hạ, cây mì đã mọc lên xanh tốt. Một số cây keo xen lẫn trong rẫy mì chưa bị chặt bỏ cũng bắt đầu héo úa. Trơ trọi giữa cánh đồng mì chỉ còn vài cây cổ thụ mà theo người Mạ đó là “cây thiêng”. Nơi những “cây thiêng” đó là mồ mả tổ tiên của bon NJiêng và Srê Ú nên người Mông không dám đốn hạ. “Cứ trồng lên họ lại chặt bỏ trồng mì, còn chúng tôi không thể ngày nào cũng có mặt để canh giữ. Nếu cơ quan chức năng không giải tỏa họ ra khỏi đây, có ngày rừng thiêng cũng bị họ phá hết”, anh KSiêng trăn trở.
Chưa được trả công
Sau hành trình tuần tra vất vả ở 4 tiểu khu rừng cộng đồng của 2 bon, chúng tôi trở lại chốt bảo vệ rừng. Căn nhà gỗ 2 gian chỉ có mình anh KSiêng OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á với phương thức “tự cung, tự cấp”. Trong khu vườn nhỏ của ngôi nhà, anh KSiêng tự trồng rau, nuôi gà… để bám trụ với rừng. Mỗi khi có ai đó từ bon đi vào, họ lại mang cho anh ký gạo hay bó rau. Còn những khi rảnh rỗi, anh lại đi làm thuê cho người dân trong vùng để lấy tiền mua lương thực, Ok 9 được vận hành bởi Liên Minh OKVIVP. Vợ đã mất, các con đã lớn nên anh ở lại đây luôn cho tiện việc bảo vệ rừng.
Theo Quyết định 304/2005/QĐ-Ttg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng OK9giaitri nền tảng giải trí online về việc giao khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng buôn làng đồng bào Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 thiểu số ở Tây Nguyên, mỗi năm họ sẽ được hưởng tiền khoán bảo vệ rừng 50.000 đồng/ha. Thế nhưng, kể từ khi nhận khoán đến nay, cộng đồng bon Srê Ú và NJiêng chưa được hưởng đồng nào tiền giao khoán bảo vệ rừng.
Ông Nguyễn Thái Ban, Phó Chủ tịch UBND xã Đắk Nia, cũng trăn trở: “OK9giaitri đăng nhập phần lớn đồng bào 2 bon này còn đang khó khăn, nếu tỉnh không trợ cấp tiền bảo vệ rừng theo quy định cho họ thì rất khó để giữ rừng”.
Còn Hoàng Tiến Mạnh, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Đắk Glong, cho biết: “Huyện chúng tôi là một trong hai địa phương trong tỉnh sẽ thực hiện việc chi trả phí dịch vụ môi trường rừng vào năm 2012, cho nên huyện chưa chi trả tiền nhận khoán bảo vệ rừng cho người theo Quyết định 304 của OK9giaitri nền tảng giải trí online. Chờ khi thực hiện việc trả phí dịch vụ môi trường rừng, chúng tôi sẽ chi trả tiền nhận khoán bảo vệ rừng cho người dân vì lúc đó họ sẽ được hưởng lợi cao hơn”.
Nhưng có lẽ, trước khi thực hiện việc chi trả phí dịch môi trường rừng, tỉnh Đắk Nông cần phải hỗ trợ tiền nhận khoán bảo vệ rừng trong 2 năm qua cho người dân bon Srê Ú và bon NJiêng. Có như thế, họ mới yên tâm bảo vệ rừng và những khu “rừng thiêng” sẽ được hồi sinh