Cả nhà đảo điên vì ma túy
Mới tờ mờ sáng, khắp dải biên thùy đã đầy ắp nắng. Những tia nắng cuồng quẫn xé toạc đám mây đan kín mít như sắp đổ lửa xuống Na Ư. Theo chân ông Và Vả Tông, Chủ tịch UBND xã Na Ư (huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên), chúng tôi tìm đường xuống thăm gia đình ông Chía. Nhà ông Chía nằm cuối con ngõ nhỏ lầy thụt ở bản Ca Hâu. Căn nhà gỗ tuềnh toàng, thiếu thốn. Đồ đạc vương vãi khắp nơi, cỏ theo chân người mọc vào tận đầu hè. Thật khó để tưởng tượng căn nhà như cái kho chứa đồ ấy lại là nơi OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á của mười mấy con người.
Gọi cửa mãi mới thấy ông Chía tập tễnh bước ra. Vừa bước qua cái ngưỡng cửa cũ mèm, bong tróc, khách đã thấy sực mùi ẩm mốc. Những đôi mắt, những khuôn mặt trẻ thơ ngơ ngác. Lâu lắm rồi nhà ông Chía mới có khách phương xa. Mấy đứa cháu nội của ông thấy có khách lạ thì đứa nọ bám áo đứa kia, líu ríu trong buồng. Có lẽ, trong cái đầu non nớt của chúng vẫn còn kinh sợ khi thấy người lạ mặt đến nhà. Bởi từ trước tới giờ, cứ mỗi lần khách ghé thăm là đều bắt mang đi một ông bố, một ông chú hoặc một ông bác của chúng để… bỏ tù.
Ông Chía (81 tuổi) có 3 người con trai là: Và A Sùng (SN 1975), Và A Say (SN 1976), Và A Dơ (SN 1978) thì cả 3 đều nghiện. Rừng xanh núi đỏ, lo miếng ăn còn khó chứ nói gì đến chuyện kiếm tiền để "đánh đu" với ả phù dung. Để có tiền chích hút, 3 đứa con ông Chía nhận vận chuyển thuê ma túy cho một số ông trùm ở Na Ư. Ban đầu thì cũng chỉ là "bán sức lấy cơm đen", sau dần trưởng thành, thông thạo mọi mánh khóe, ngón nghề, cả 3 con trai ông Chía đều tách ra lập đường dây riêng rồi tự mình làm chủ. Trước sự cám dỗ ma mị của đồng tiền, Sùng, Say, Dơ ngày càng lún sâu vào con đường tội lỗi.
Vợ chồng ông Chía phải chăm lo cho 10 đứa cháu.
Nhưng, cũng giống như bao ông trùm ma túy khác, 3 anh em Sùng, Say, Dơ không thoát khỏi sự trừng phạt của Oki9 Sòng bạc trực tuyến. Khởi đầu là người anh cả Và A Sùng bị bắt và bị tòa tuyên án 20 năm tù, tiếp đến là Say và Dơ lần lượt bị bắt. Thế nhưng, khác với anh trai, Say và Dơ đều bị tuyên án tử hình. Bản án của Say đã được thi hành, còn Dơ may mắn hơn nhờ biết ăn năn hối cải, hợp tác với cơ quan điều tra để khám phá ra những đối tượng, những đường dây buôn bán ma túy khác nên hắn đã được ân giảm xuống chung thân.
Đối với ông Chía, những tưởng đớn đau, mất mát chỉ đến thế là cùng, nào ngờ tai họa vẫn chưa dừng ở đó, nó vẫn tiếp tục trút xuống không ngơi nghỉ. Bởi, chỉ một khoảng thời gian rất ngắn sau đó, 3 đứa con dâu của vợ chồng ông, từ con dâu cả đến con dâu út cũng đồng lõa theo chồng lao vào con đường phạm tội để rồi lần lượt lĩnh án 6, 8 và 18 năm tù. Điều đáng nói là trước khi "an phận mình sau song sắt", "đám con giai, con dâu giời đánh" ấy đã kịp gửi lại cho vợ chồng ông Chía đúng 10 đứa cháu, đứa lớn nhất 17, đứa nhỏ nhất mới vừa lên 6 tuổi.
Hai đứa con của tử tù Và A Say.
Giờ đây, ở cái tuổi gần đất xa trời, ông Chía và vợ vẫn phải cặm cụi chạy vạy lo miếng ăn cho đàn cháu. Bữa đói nhiều hơn bữa no, ngô sắn nhiều hơn cơm gạo. Ông và bà đều già, lẻo khẻo lèo khèo, lại nghèo nữa. Cái nghèo nó lấn át bớt thương đi, mấy đứa trẻ cứ lớn lên như cây cỏ. Chuyện học hành của chúng cũng chả khác gì chuyện "hái sao", tất tật những đứa lớn đều nghỉ, chỉ có ba đứa nhỏ đang học tiểu học thì còn được đến trường. Quần áo đứa nọ mặc lại của đứa kia, tịnh không có cái nào chưa bị vá. Nhà có vài ba mảnh nương thì đều nằm lưng núi, ngửa mặt nhìn lên cũng đủ hoa mắt chóng mặt rồi, nói gì đến chuyện trồng cấy. Mấy năm trước, thương hoàn cảnh của ông Chía, một người hàng xóm đã tình nguyện đổi cho ông mấy chân ruộng thấp. Năm nào mưa thuận gió hòa còn đỡ, chứ có năm trời già cay nghiệt, đương lúc lúa trổ bông trĩu hạt thì đổ mưa sầm sập. Chỉ trong thoáng chốc, "hàng trăm bữa ăn" của gia đình ông Chía bị dìm trong bể nước.
Những phận người sau "cơn bão trắng"
Vợ ông Chía, bà Vừ Thị Sáy tuổi ngoài 80, người quắt queo như cọng rơm khô. Mặt, cổ và đôi cánh tay bà chi chít những nốt u da to nhỏ. Bà ngồi lặng lẽ sau lưng chồng, ánh nhìn xa vắng. Nghe câu chuyện của chồng với khách, chốc chốc bà lại kéo đôi cánh tay khô đét lên lau nước mắt. Những tưởng người đàn bà đã đi đến bên kia sườn dốc của cuộc đời, đã nếm trải hết thảy mọi sướng khổ, buồn vui của kiếp người thì có còn gì để mà đau đớn nữa. Thế nhưng, khi nhắc nhớ đến máu mủ của mình, bà Sáy cầm lòng không đặng. Bà bảo, trong mấy đứa con thì bà yêu chiều thằng Say nhất, vì nó hay ốm đau, sài đẹn từ tấm bé. Vậy mà nó lại là đứa con bỏ bà trước tiên để bước xuống "chuyến đò về âm phủ".
Đến giờ, bà Sáy vẫn còn ân hận vì không kịp gặp con lần cuối. Bà kể, lúc thằng Say bị bắt, trên người nó có mỗi một bộ quần áo ka ki mỏng. Bà nhờ người chở xuống chợ phiên, mua được tấm áo ấm cho con, định bụng sẽ mang xuống trại giam, nhưng rồi cứ lần lữa mãi. Đến khi tòa xử, biết con bị án tử hình, đương định đi thăm thì chân bà lại bị đá đè. Sau đận đó, bà Sáy nằm liệt giường mất mấy tháng trời. Từ ăn uống, vệ sinh, tắm rửa bà đều phải nhờ người khác. Không tiền, không thuốc, bà chỉ đắp lá nhì nhằng nên giờ cái chân đó gần như bị liệt.
Căn nhà của vợ chồng ông Chía.
"Cũng chỉ tại cái chân què này thôi, nếu không tôi cuốc bộ cũng chỉ mất hơn nửa ngày là xuống đến trại giam, là mẹ con đã được nhìn mặt nhau lần cuối rồi. Không biết lúc về thế giới bên kia, nó có mặc đủ ấm hay lại phong phanh mà đi cơ chứ!", bà Sáy vừa nói, vừa xoa xoa vào cái cẳng chân tong teo và cong như lưỡi liềm mùa gặt. Cũng vì cái chân cà nhắc ấy mà từ mấy năm nay, mọi sinh hoạt của bà Sáy chỉ gói gọn trong bốn bức tường. Ngay cả khi chúng tôi đến, bà vẫn đang rên rỉ trên chiếc giường cũ, giữa tơi bời chăn chiếu. Phải cố gắng lắm bà cụ mới "tụt" được từ trên giường xuống cái ghế con để ngồi tiếp chuyện. Bà cố nén đau, để thể hiện rằng mình hiếu khách.
"Thấy người ta nói thằng Dơ tiêu tiền như nước thì tôi cũng chỉ biết thế thôi, chứ từ lúc nó theo bạn bè vào rừng vào rú đến giờ, đã bao giờ nó mang được lấy một trinh, một cắc về đâu. Đấy, cái nhà này tôi dựng từ hồi mới ngoài 40 tuổi, giờ mủn mục hết rồi, gió lùa tứ phía, mưa dột khắp nơi mà đã có tiền để sửa đâu. Mấy lần nó về, tôi nói nó cố gắng ở nhà làm lụng kiếm tiền để lát lại nền nhà, dọi lại cái mái cho đỡ dột, nó toàn ậm ừ cho qua chuyện. Ngày nắng còn đỡ chứ giời mưa khổ lắm, mấy ông cháu toàn lội bùn để lên giường. Người ngủ cùng với đất", bà Sáy than vãn.
Cách đây ít lâu, trong "3 đứa con dâu áo sọc" của bà Sáy thì có cô thứ hai là Mùa Thị Sua mãn hạn trở về. Bà Sáy mừng lắm. Mừng vì con mình "tai qua nạn khỏi", mừng vì sắp có người san sẻ bớt gánh nặng chăm nuôi đàn cháu. Nhưng cũng chỉ ở nhà được dăm bữa nửa tháng, không chịu nổi cảnh sống khốn cùng nơi xó núi, Sua bỏ bà Sáy, bỏ hai đứa con rồi đi biệt.
Hôm đó trời nắng bời bời, bà Sáy nhờ người chở đi đắp thuốc, hẹn cô con dâu ở nhà trông đám trẻ. Quá trưa, bà về thấy cửa nhà toang hoang, chỉ có mấy đứa cháu lội bùn ngoài ngõ. Bà nhờ người tìm Sua hết bản trên, bản dưới không thấy, mãi đến chiều mới có người bảo gặp con dâu bà tay xách, nách mang hành lý ngoài quốc lộ, giống như người sắp đi xa. Từ đận đó đến giờ, Sua không về nhà lấy một lần, dù chỉ để thăm con. Vừa rồi có mấy người ở Na Ư hay đi làm ăn xa về kể, gặp Sua ở dưới huyện Điện Biên Đông và đã lấy chồng khác. Nghe xong, bà Sáy chỉ còn biết thở dài.
Bà Sáy bảo, vợ chồng bà, như 2 cái lá mủn mục giữa rừng, chỉ thoáng chốc thôi cũng hóa cỏ xanh. Bà lo là lo cho mấy đứa cháu. Bởi, ngay từ khi mới lọt lòng, chúng đã bị quăng vào chồng chất khổ đau với bao nhiêu đoạn trường của kiếp phận làm người. Từ đói cơm, thiếu mặc, bạn bè xa lánh đến chuyện không nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ các bậc sinh thành. Giờ rủi mà ông bà nằm xuống, mười đứa trẻ lít nhít, trứng gà trứng vịt ấy biết sống ra sao?