Sông La Ngà được phát âm trại từ Đạ Rngaa, là tên của một chàng trai Mạ dũng cảm, người đã dùng sức lực và mưu trí của mình để ngăn cản con nước lớn cứu sống dân làng. Sông Đạ Rngaa phát nguyên từ cao nguyên Lâm Viên chảy dọc theo 3 tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai với chiều dài 272km trước khi đổ vào hồ thủy điện Trị An. Tuy là con sông nhỏ với tên tuổi mờ nhạt trong hệ thống sông ngòi Việt Nam, nhưng lại là một dòng sông đặc quánh huyền thoại của bộ tộc Mạ. Đã bao đời nay con sông này là vật cứu tinh cho hàng ngàn hécta ruộng đất nương rẫy, mang lại cơm áo cho hàng chục ngàn con người sống bằng nghề đánh bắt nuôi trồng thủy sản.
Thời trai trẻ, đã có một thời tôi đóng quân bên cạnh con sông mang nặng phù sa đầy tôm cá này. Sau ngày thay bộ quân phục, tôi về thành phố khoác áo sinh viên rồi tốt nghiệp cũng về lại đầu nguồn sông La Ngà làm phiên dịch cho công ty Nhật OK9 đã banh thủy điện Hàm Thuận Đa Mi.
Đời người như thế cũng là duyên số. Ngày Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 với Nhật được đi lại bằng ca nô xuôi ngược cả chiều dài con sông để khảo sát địa chất và lưu lượng dòng chảy, được sống lại một thời “ăn sóng nói gió” trôi nổi giữa dòng đời đầy phù sa, ghềnh thác. Lúc còn Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 ở thủy điện, đã nhiều lần Ba Trưởng ở Bình Thuận viết thư bảo tôi bỏ nghề phiên dịch, về lại sông La Ngà để anh em còn có cơ may gặp nhau.
Ba Trưởng là bạn thân của tôi thời quân ngũ, lúc còn cầm súng hai thằng hứa với nhau, sau này ra quân về sông La Ngà quê anh cưới vợ, làm 2 ngôi nhà lợp cỏ lác sống bên cạnh nhau. Anh phục viên trước, về lại dòng sông quê lập chòi nuôi vịt rồi cưới vợ sinh con, những đứa con của anh lớn lên ven bờ đen đúa rắn chắc bơi lội như vịt, chúng nó học chưa hết cấp 2 đã trở thành những tay chăn vịt cừ khôi nhất vùng. Với nghề nuôi vịt thả sông, gia đình anh sống trải dài theo những con nước lũ ròng quên hẳn chuyện thăng trầm thế sự, nhưng trong tâm thức anh vẫn còn nhớ đến những người bạn cùng thời chinh chiến.
Qua thư viết, anh bảo tôi vào rừng chặt thân chuối tươi kết thành bè rồi thả trôi sông khoảng nửa ngày anh sẽ đón tôi tại chòi vịt ở Võ Xu. Nghe anh đề nghị chuyện ngồi bè trôi sông giữa rừng già một mình như thổ dân da đỏ ở hạ nguồn sông Amazon mà gai óc nổi lên.
Năm nay Ba Trưởng trúng mùa vịt, không biết được bao nhiêu tiền, nhưng qua điện thoại anh ấy hứa là nếu tôi về chơi anh lấy ghe nhà có gắn máy đuôi tôm, hai thằng sẽ chạy xuôi ngược trên sông, đến thăm từng xóm nhà nổi để hâm nóng một thời hai thằng vượt sông đói lạnh. Từ Đà Lạt tôi phóng xe máy vượt 300km xuôi theo quốc lộ 20 về lại con sông quê của anh nơi đã một thời đầy ắp kỷ niệm.
Tháng 5 ở cao nguyên trời rông rốc nắng và lòa xòa gió, mùa khô ở vùng cao vẫn thường như thế. Đường xuống đèo Pren với những cây Xà Nu ven đường lá chỉa ra xanh mướt như mái tóc của các cô gái Mạ, Khor dậy thì đầy sức sống. Cao nguyên Lâm Viên nơi phát nguyên của sông Đồng Nai, vương quốc của hoa và bướm, mỗi năm vào những tháng này bướm bơ, bướm cải, bướm măng… bay chấp chới vàng đường đến nỗi đập vào mũ bảo hiểm người đi xe xoành xoạch.
Đi nửa ngày mới đến đèo BSa một địa danh nổi gai óc ngày nào. Nhìn những ngôi nhà mới xây còn thơm mùi sơn nước ở phía sau là vườn sầu riêng tán rộng xòe ra cao vút, râm ran theo tiếng ve gọi bạn mùa hè, tôi mơ hồ nhớ đến đàn cọp năm xưa nằm nhe răng le lưỡi nước miếng chảy xuống từng dòng, đang díu mắt nhìn về hướng xa xăm như chờ đợi đã thấy rợn người.
BSa vào những năm 50 của thế kỷ trước nổi tiếng về cọp, vào thời điểm hoang sơ ấy, gần như hàng ngày cọp ra đèo nằm ngồi từng nhóm ở giữa đường.
BSa bây giờ là vùng trồng cây ăn quả nổi tiếng, tại khu vực ven đường này hàng chục nhà hàng mọc lên nhộn nhịp du khách vào ra, và hàng trăm gian hàng trưng bày trái cây bản địa tươi nguyên như sầu riêng, mít tố nữ, chôm chôm, măng cụt.. đa số cư dân BSa đã trở nên giàu có từ những nông trại vườn rừng mà ngày xưa khi nhắc đến địa danh này mọi người đều rụt đầu le lưỡi.
Ngút ngàn ở phía thượng nguồn
Đường cắt về sông Đạ Rngaa từ ngã ba BSa phải qua những buôn làng của đồng bào Khor, Mạ. Đó là những người dân bản địa đã tồn tại bao đời nay cũng là những bộ tộc khắc tinh với cọp. Người Khor được chia làm hai nhóm là Khor Nộp và Khor Chrê. Người Nộp sống trên vùng bán sơn địa làm rẫy và người Chrê sống ở vùng trũng làm ruộng. Tất cả các cư dân này cho dù sống ở cao hay thấp cũng đều bám theo dòng nước để tồn tại, người K'ho có thói quen chỉ tắm giặt ở một bến nước cố định. Nơi đó còn gọi là bến tắm, bến tắm thường được hình thành một cách tự nhiên ở những nơi có không gian rộng rãi, thoáng đãng cũng là nơi giao hòa, hội tụ, hợp nhất giữa trời, đất, nước và con người. Chính vì vậy, nơi ấy đã trở thành không gian văn hóa, không gian tâm linh của các Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 thiểu số vùng cao là nơi vừa trần tục, lại vừa thiêng liêng.
Ngày Link Đăng Ký Đăng Nhập Nhà Cái OK9 Chính Thức đắp đập ngăn dòng chảy sông La Ngà để xây đập thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi, hàng trăm gia đình Khor phải dời đi nơi khác. Mỗi gia đình này được đền bù cho mỗi căn nhà mới xinh đẹp kể cả giếng đào xử dụng nước ngầm. Vì vậy, mỗi lần tắm giặt một mình lặng lẽ, bà con Khor lại nhớ về bến nước, nhớ những tiếng cười. nhớ những lời hò hẹn, họ cảm thấy mất đi nét văn hóa ven sông…
Người Khor ở đầu nguồn sông La Ngà bây giờ giàu có từ các loại cây công nghiệp: cà phê và trà, đã không ít gia đình trở thành đại gia miền núi. Cho dù Nộp hay Chrê gần như đã bỏ nghể trồng lúa rẫy. Nếu bạn có đến cao nguyên xanh này, bạn có thể rất khó tìm ra những cô sơn nữ mang gùi suốt lúa hay giã gạo đêm trăng, tất cả những hình ảnh ấy chỉ còn là kỷ niệm. Nếu có, chỉ là màn dựng lại để quay phim chụp ảnh của các nhà đạo diễn truyền hình. Thay vào đó là các sơn nữ đi xe máy mang gùi hái chè hay cà phê để đến chiều có xe kéo vào tận vườn chở về. Thậm chí có không ít các cô gái hay chàng trai này ra đường mặc quần Jean xức nước hoa thơm phức hoặc khoác trên người những bộ quần áo đắt tiền.
Xuống đến địa phận Bình Thuận, Ba Trưởng dẫn tôi đi thăm những cánh đồng lúa thuộc lưu vực sông La Ngà. Tháng năm ở miền
Ba Trưởng hua tay vẽ một vòng tròn trên không trung chỉ cánh đồng 2 xã Mepu-Vỏ Xu, anh cho biết toàn bộ khu này vào mùa lũ nước sông La Ngà tràn lên như biển, nhưng chỉ vài ngày rồi lại rút để lại một lượng phù sa dày đặc, vào thời điểm thu hoạch vụ mùa, từng đoàn xe chở lúa ngược xuôi như trẩy hội.
Cánh đồng ven sông này mỗi năm mang về cuộc sống no đủ cho bà con, nhưng cũng lấy đi vài mạng người. Hàng năm đến mùa mưa gần như năm nào người dân ở đây cũng bị sét đánh, đánh cả trâu bò, cứ mỗi lần trên bầu trời mây đen kéo về vần vũ, một số bà con còn kẹt ở giữa đồng gương mặt họ trở nên tái nhợt đầy sợ hãi vì không biết ai sẽ bị thiên lôi gọi về.
Rồi cách đây hơn 10 năm, tại huyện Tánh Linh rộ lên chuyện kho báu của Người Chăm với bản đồ da dê, đã không ít người tham gia trò đánh bạc với niềm hy vọng. Chuyện được thêu dệt rằng Vương quốc Chămpa năm xưa đã chuyển trên 5 tấn vàng về sông La Ngà ở xã La Ngâu trong quá trình nam tiến, rồi đến chuyện nước mắt của Đức Mẹ Tà Pao. Đều là sản phẩm của trí tưởng tượng của con người mà thôi…
Mê hoặc, náo nức dưới hạ nguồn
Sông La Ngà một thời được xem như là một Talépoonmut của biển hồ Campuchia. Hàng năm vào tháng 10 hoặc tháng 11 âm lịch, các đàn cá chen chúc nhau bơi xuống hạ nguồn. Những cư dân bản địa thời ấy là bộ tộc Khor Nộp chỉ cần một chiếc xuồng độc mộc với một cây lao, họ có thể bắt cá theo ý muốn.
Ông Man Đú, một cư dân Khor trên 80 tuổi cởi áo cho chúng tôi xem những vết sẹo trên người mà ông đã từng chiến đấu với loài cá dữ. Câu chuyện săn cá khủng được ông kể lại thời trai trẻ của mình như huyền thoại.
Chuyện kể rằng “Một buổi chiều khi trời sắp lặn, ông Man Đú ngồi trên sàn nhà nghe tiếng trút trút dưới sông, là người săn cá chuyên nghiệp ông biết trèn bồ đã về. Trèn bồ là tên một loại cá có thân hình dẹp dài màu xám bạc, có râu như cá chép, vì kích thước rất lớn nên gọi là trèn bồ. Ông Man Đú lặng lẽ xuống thuyền độc mộc, buộc dây lao vào mạn thuyền lặng lẽ chèo theo tiếng kêu để xác định vị trí. Con trèn bồ bị trúng lao bất ngờ nên tháo chạy kéo theo chiếc thuyền, ông nằm mẹp xuống ghì chặt mạn thuyền như ngồi trên lưng con ngựa bất kham. Cuối cùng thuyền bị lật, cũng là lúc cá thấm mệt, sau đó ông dẫn độ nó về, đó là một gã trèn bồ gần cả trăm ký. Sau này chuyện đi săn cá của bộ tộc Khor Nộp được thêu dệt thành nhiều huyền thoại.
Vào nửa thập niên 70, nghề cá ở sông La Ngà phát triển khá mạnh về kỹ thuật đánh bắt. Những người dân vùng này gốc gác ở đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đã sống qua nhiều thế hệ tại biển hồ Tonlésap Campuchia trở về nước mang theo nhiều bí mật nhà nghề. Họ biết được đặc tính của các loài cá, kể cả những thói quen bất thường của cá lớn. Vì vậy việc đánh bắt cá thiên nhiên trên sông La Ngà ngoài lưới, câu… còn làm nghề đáy và cắm chà.
Đáy là tên của một công cụ đánh bắt, được làm bằng nhợ nylon có hình dáng như chiếc túi khổng lồ đường kính 10m và chiều dài 50m. Tên nghề nghiệp gọi là đẫy, đầu đẫy được đan theo lưới mắt cáo, mỗi mét lưới dài khoảng 10cm càng về sau càng nhặt dần chỉ còn 1cm. Vị trí đẫy được đặt tại một khúc sông hẹp, người đánh bắt dùng cây rừng đóng thành một hàng rào chắn 2 góc sông tạo thành một con đường độc đạo. Mỗi lần thu hoạch, người ta nâng miệng lưới lên cao từ đầu đến cuối lưới để gom cá lại. Vì vậy lượng cá còn sống đạt 100%.
Nghề thứ hai là nghề cắm chà, ngư dân chặt cây rừng loại thân cây nhỏ nhiều lá, sau đó cấm sâu xuống lòng sông kèm theo một bọc ruột gà, ruột heo đem ngâm với nước cơm cho đến khi bốc mùi, khoảng 1 tuần đem bọc mồi buộc dưới tâm điểm đống chà dưới nước trở thành một căn nhà chung cho các loại cá trê, cá lăn. Khoảng 10 ngày các ngư dân sông nước dùng lưới bao vây và lần lượt tháo chà. Mỗi mẻ chà có thể thu được cả 100 ký cá lăn, trê mỗi con từ một đến hai ký. Nghe kể thì có vẻ khấm khá, nhưng những con người ven sông này quanh năm sống trong túp lều tranh tre tạm bợ quần áo rách rưới, con cái nheo nhóc không được học hành, thậm chí gà chó và heo sống chung với người trên sàn tre lạnh lẽo.
Nổi nênh làng nổi La Ngà
Trong tâm tưởng của những người đã từng sống ở đồng bằng châu thổ. Cao nguyên là vùng cao thừa nắng gió thiếu nước, thiếu màu xanh đồng nội. Điều đó đôi khi cũng có lý. Nhưng đi từ TP HCM đến phía Bắc tỉnh Đồng Nai theo đường quốc lộ 20, bạn sẽ thấy hàng trăm gia đình sống quây quần trên sông nước. Đó là làng nổi La Ngà thuộc hồ nhân tạo thủy điện Trị An rộng 323km2, được đưa vào sử dụng từ năm 1986.
Nhìn hồ nước mênh mông mới thấy sức mạnh con người thật khủng khiếp. Chỉ trong một thời gian ngắn từ khu rừng được khai thác trắng, ở giữa là con sông Đồng Nai vào mùa khô hiền lành thấp thoáng như một dải lụa chảy len lỏi theo vùng đất thấp bỗng trở thành biển nước mênh mông với những con sóng cao đến cả mét. Bộ tộc Stiêng cư dân bản địa sẽ không bao giờ quên cái ngày mà cả buôn dẫn nhau ra xem mực nước từ từ dâng lên nhấn chìm những ngôi nhà, bến nước cũ của mình, nhấn chìm cả một ký ức buôn làng đã bao đời bên sông đầy kỷ niệm và đó cũng là lần đầu tiên người Stiêng vùng này thấy được không gian vô tận của thủy thần.
Năm 1993 tại hạ nguồn sông La Ngà có 16 hộ đến đây OK9 là nền tảng giải trí trực tuyến uy tín hàng đầu châu Á. Hầu hết họ là những cư dân sông nước từ Campuchia về sống quần cư trên mặt nước. Nhà nổi trên sông mái lợp bằng lá hay tole, vách thưng nẹp tre, nền nhà là một hệ thống thùng phuy từ 10 đến 20 chiếc, dưới nhà là một lồng bằng gỗ dùng để nuôi cá mà người ta gọi là nuôi cá lồng.
Đến nay đã qua một thời làng nổi La Ngà nhộn nhịp như chợ vùng biên giới. Ngày ấy, các loại cá lồng nước ngọt được vận chuyển đi khắp nơi, nhiều người nuôi cá lồng trở nên giàu có. Người xưa nói “Muốn giàu nuôi cá, muốn khá nuôi heo, muốn nghèo nuôi vịt”. Nghề nuôi cá lồng mỗi năm một vụ, mỗi vụ 3 tấn tổng số tiền thu hoạch có thể tính bằng đơn vị trăm triệu, nghề này vốn ít nhưng tận dụng được tài nguyên thiên nhiên của vùng sông nước. Vì vậy từ 16 hộ đến nay đã có trên 300 hộ với gần 1.500 nhân khẩu và đã trở thành một Ok9 cab trò chơi casino phổ biến thu nhỏ trên mặt nước. Nơi đây nghe tiếng cười của khách thương hồ, tiếng đùa nghịch của trẻ thơ, trộn lẫn với tiếng cá đớp bóng và tiếng vẫy đuôi bồm bộp dưới lồng.
Chúng tôi đến làng nổi vào lúc 7h đêm. Vì là mùa khô nên dòng sông bị thu hẹp lại, trên bầu trời đầy sao, gió thổi se se với những con sóng nhỏ vỗ vào mạn thuyền oằm oạp. Ở phía xa những ánh đèn măng xông hoặc đèn điện chạy máy chiếu hắt xuống tạo thành một vùng sáng chạy dọc theo bờ sông, một ngôi nhà thuyền gần nơi chúng tôi đến vọng lên tiếng võng đưa kẽo kẹt. Không cần quan sát chúng tôi cũng biết đó là một gia đình ngư dân đã từng sống ở Campuchia với giọng hát kéo nhựa buồn buồn “Nư tư plut ách niết đa/ Kon đưng pừng nách nè siêng kom na… (Trên đường con về quê, vắng bóng mẹ con biết nhờ cậy ai…). Là ngư dân sống trên sông nước. Vào mùa nắng, con nước ròng càng hiền lành bao nhiêu thì mùa lũ lại càng hung bạo bấy nhiêu. Chính vì vậy tình làng nghĩa xóm được hình thành để bảo vệ nhau trước sự giận dữ của thủy thần.
Đêm mưa gió nghe vọng tiếng kêu cấp cứu, trai tráng trong làng thuyền không ai bảo ai tự cầm dây thừng lao người xuống nước, vì họ biết chắc có một căn nhà bè bị đứt dây trôi theo dòng nước dữ. Cũng như trên đất liền, đám cưới là dịp thể hiện rõ nhất trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng, ở làng nổi vào ngày cưới người ta buộc chặt từ ba đến bốn nhà thuyền với nhau rồi tháo vách trở thành một không gian liên kết của con người.
Trong nghi lễ dù ở đạo nào, bao giờ cũng lạy tạ tổ tiên và Bà Cậu, sau đó chúc tụng nhau từ những bài hát dân ca Khmer đến dân ca Nam Bộ với một cây đàn vọng cổ mà tuổi thọ cây đàn có thể đến 50 năm, linh vật này đã từng làm nền nhạc cho những đôi vợ chồng trẻ và cũng đã từng theo chủ chứng kiến sự thăng trầm của các ngư dân qua nhiều thế hệ.
Chúng tôi nghỉ lại qua đêm tại nhà thuyền ông Trần Văn Minh, đó là một gia đình khá đặt biệt. Ông Minh là dân Lạng Sơn có vợ là cư dân việt kiều Campuchia. Đôi vợ chồng gặp nhau ở Tây Ninh sau đó trôi dạt về làng nổi La Ngà, họ có với nhau 4 đứa trai gái mạnh khỏe, da ngăm đen như cộng hưởng giữa phù sa và nắng. Những cư dân mới này chưa một lần ra thăm phố Kỳ Lừa của bố hay biển hồ Tonlésap của mẹ nhưng chúng cũng đã nếm được mùi nắng gió của gia tộc mình từ trong bụng mẹ.
Dân làng nổi sống không cố định nơi nào, ở đâu có mật độ cá nhiều là ở đó họ có mặt. Có thể ngày hôm nay, bạn nhìn thấy hàng chục nhà thuyền quây quần bên nhau tỏa khói lam chiều bảng lảng, nhưng ngày mai chỉ còn là một dòng sông vắng lặng, không một bóng người.
Dân sông nước họ có niềm tin vào đấng vô hình mà họ gọi là Bà Cậu. Mùng ba Tết hầu hết các gia đình đều cúng một đôi gà trống thiến, gà phải do gia chủ nuôi từ lúc nhỏ hoặc mua lại ít nhất hai tháng, gà sau khi luộc chín nếu các ngón chân co về một phía là điềm lành nếu các ngón quay hướng khác nhau là điềm dữ làm ăn thất bại. Chân gà sau khi xem hậu vận cả năm, được buộc treo lủng lẳng đầu nhà, chúng còn là một vũ khí ngăn chặn các hung thần gây ra tội ác xâm nhập vào lãnh địa của gia đình họ.
Dân sông nước ơn đền oán trả rất sòng phẳng. Tuy nhiên họ là những người rất hiếu khách. Đến làng nổi, bạn hãy mua vài lít rượu đế ngồi lai rai với cá khô hun khói lúc nào cũng có sẵn trong nhà. Bạn sẽ được nghe cuộc đời ngang dọc của từng gia tộc với những câu chuyện sông nước đầy huyền thoại.
Thanh âm nhựa sống cựa mình trong khí quản
Những cuộc đời ven sông, nơi tôi đã đến. Hầu hết những gia đình này đều chỉ sống ngang mức nghèo khổ, thiếu thốn các tiện nghi vật chất bình thường, nhưng tất cả đều mạnh khỏe không cần phải đi bệnh viện, cũng không có những thân hình còi cọc ốm yếu. Họ sống với xóm làng rất có tâm, đặc quánh tình người. Nhìn những tổ ấm tồn tại trên sông nước, tận mắt thấy các cháu nhỏ hồn nhiên vô tư rộn rả tiếng cười, trong khi ở các nơi đô thị rực rỡ ánh đèn con người và cuộc sống vật chất được nâng cấp từng ngày, tôi tự hỏi họ có nhận ra những khoảng cách giữa hai nền văn minh ấy!
Từ làng nổi, suy rộng ra trên thế giới, những cư dân ở sa mạc Gobi, Sahara nóng bức với bão cát mù trời hay ở vùng Alaska với những dòng sông băng lạnh giá. Còn trong nước, người Hmông sống cheo leo trên triền núi đá Đồng Văn phải bê từng xô đất đổ vào hốc đá để trồng bắp…. người ta vẫn tồn tại vẫn râm ran cười nói với nhau một cách rất thực lòng. Điều gì làm cho con người gắn bó ở những môi trường có địa hình khắc nghiệt như thế! Có lẽ vì hồn của đất của nước đã đống kết vào tâm thức họ, những con người có máu phiêu lưu mạo hiểm thích đối mặt với đất trời đã di truyền hàng bao nhiêu thế hệ, họ bằng lòng những điều mình có.
Về chuyện của các cư dân ven sông, suy cho cùng con người sinh ra lớn lên sống vui vẻ, hòa thuận, mạnh khỏe đến cuối đời cũng là một khát vọng. Vì trong cõi người ta sự hạnh phúc nhân bản, một thể lực cường tráng để sống thọ để duy trì nòi giống từ một tổ ấm gia đình bền vững vẫn là ước mơ chính đáng của nhân loại