Bác sĩ phẫu thuật ngồi trước bàn điều khiển cách xa bệnh nhân trong khi robot mô phỏng theo từng động tác của bác sĩ. Hệ thống có 3 phần: bàn điều khiển của nhà phẫu thuật, chiếc giường cho bệnh nhân và 4 cánh tay robot được điều khiển bởi bác sĩ phẫu thuật; và cuối cùng là hệ thống hiển thị 3D độ phân giải cao.
Hình ảnh 3 chiều giúp bác sĩ quan sát rõ ràng hơn so với màn hình 2 chiều sử dụng trong phẫu thuật nội soi truyền thống. Những cánh tay robot cử động rất khéo léo như cổ tay con người. Trong điều kiện thực tế, robot đã thành công đến mức hiện nay đã có robot Da Vinci thế hệ thứ 3.
Bloodbot
Được thiết kế năm 2001, Bloodbot thực hiện nhiệm vụ lấy mẫu máu bệnh nhân. Thách thức lớn nhất của Bloodbot là tìm tĩnh mạch để lấy máu, bởi vì mẫu tĩnh mạch ở mỗi bệnh nhân khác nhau. Bloodbot do hai nhà Ok910 tỷ lệ kèo World Cup 2026 Alex Zivanovic và Brian Davies ở Đại học Hoàng gia
Để tránh chảy máu khi đang tìm một tĩnh mạch, Bloodbot sẽ ấn một que thăm lên bề mặt mô và đo áp lực lên que thăm. Áp lực khác nhau trên bề mặt sẽ chỉ rõ tĩnh mạch ở đâu. Hệ thống rất tinh tế và chính xác đủ để bảo đảm robot không đâm kim quá sâu vào tĩnh mạch hay quá xa nó.
FreeHand camera
Nội soi ổ bụng - cho phép bác sĩ thực hiện những vết cắt nhỏ nhất - thường là một trong những kỹ thuật phổ biến nhất trong phẫu thuật. Và robot chỉ có thể giúp cho tiến trình dễ dàng hơn.
FreeHand camera là một thiết bị robot nặng 6,8kg giúp bác sĩ kiểm soát trực tiếp camera soi ổ bụng qua hệ thống kiểm soát được bác sĩ mang trên đầu.
RI-Man
Robot thay thế y tá để giúp đỡ bệnh nhân phục hồi sau ca mổ. Công ty Nghiên cứu kiểm soát mô phỏng sinh học Riken của Nhật Bản thiết kế robot RI-Man cao 1,5m, nặng 99,7kg và có thể nhấc bổng một trọng lượng 36kg.
Hệ thống cảm biến của RI-Man sẽ xác định âm thanh xuất phát từ đâu và nhận diện được gương mặt bệnh nhân. Công ty Riken đã ngưng phát triển RI-Man và hiện đang tập trung nghiên cứu thiết kế một phiên bản mới gọi là RIBA.
ARES robot
Hãy hình dung một robot không lớn hơn một viên thuốc được bệnh nhân nuốt vào bụng để giúp cho bác sĩ phẫu thuật quan sát rõ các bộ phận bên trong cơ thể mà không cần đến can thiệp phẫu thuật. Nguyên mẫu robot ARES đòi hỏi bệnh nhân nuốt 15 modul khác nhau, mỗi modul có kích thước trong khoảng 0,1 và 0,5cm2.
Trong các modul bao gồm một số yếu tố như: bộ cung cấp năng lượng cực nhỏ, đơn vị giao tiếp, modul xử ý, camera và chip kiểm soát. Một số modul được phân hủy sinh học, trong khi một số khác phải được tháo ra khỏi cơ thể. ARES còn đang trong giai đoạn phát triển, và nếu thành công robot sẽ được ứng dụng rộng rãi trong y khoa chữa bệnh.
Robot chẩn đoán từ xa
Với công nghệ này, bác sĩ sẽ giao tiếp với y tá thông qua một robot chẩn đoán từ xa gọi là RP-7 của Nhật Bản. Robot được trang bị camera và màn hình để bệnh nhân và bác sĩ từ xa nhìn thấy nhau.
Robot được kết nối với các thiết bị khác như là ống nghe, ống soi tai và máy quét scanner siêu âm - điều này cho phép bác sĩ chẩn đoán gần với hiện thực hơn.
Robot khám nghiệm ruột kết
Endotics tự động đi sâu vào ruột thay vì bác sĩ phải đẩy vào như dụng cụ khám thông thường. Nhờ robot mà bệnh nhân tránh được cảm giác khó chịu khi một vật thể lạ xâm nhập vào ruột, do thành ruột không bị đè ép.
Chuyển động của robot mô phỏng theo sự di chuyển của sâu đo