Quãng những năm cuối 70, tôi về nhập tịch khu nhà tập thể 128 Hàng Trống nhảo ra hồ Hoàn Kiếm chỉ hơn chục bước chân. Nói chả ngoa, khu tập thể xập xệ này nó mang máng cái hiện trạng từ thuở vua Lý Thái Tổ nói trong Chiếu dời đô rằng là nơi bốn phương tụ họp! Như những cái góc mà ở đó người ta có thể tìm ra những lát cắt như những tiêu bản để soi để đọc một thời. Thời hòa bình, thời đạn bom cùng là những ngày bao cấp lê thê khốn khó.
Thú thực đến bây giờ tôi cũng không nhớ số nhà chung ấy có bao nhiêu hộ? Nguyên ủy sau ngày tiếp quản Thủ đô ít lâu, nhà 128 Hàng Trống được dành cho cán bộ của Trung ương Đoàn, trong đó có phóng viên của Báo Tiền Phong rồi Báo Thiếu niên Tiền Phong chuyển từ chiến khu về. Mấy anh em chúng tôi thuộc thế hệ sau ở chung trong một căn phòng, trần lở lói, nền lát gỗ lim từ đầu thế kỷ XX, thời điểm dựng cái nhà này.
Người hàng xóm áp tường là ông Nguyễn Thanh Dương sau nhiều năm làm Tổng Biên tập Báo Tiền Phong, chuyển sang làm biên ủy cho tờ Nhân Dân. Ông là người không biết nấu cơm, chợ búa mọi chuyện nhà đều phó thác cho vợ con nhưng là người mặn chuyện và có vẻ rành rẽ tính cách quân của mình hơn cả?
Quân của ông, cũng là quân của Báo Tiền Phong cũng như dân của căn hộ này những là Bùi Ngọc Tấn (sau này nổi danh với Chuyện kể năm 2000), những là nhà văn Lê Minh Khuê, Phan Cung Việt. Riêng ông là tác giả bài báo đăng nhiều kỳ trên tờ Tiền Phong về cải cách ruộng đất mà sau này nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đã liên tục đeo lấy ông, đòi ông cho gặp cho về cơ sở để nhà văn viết cuốn Truyện anh Lục.
Quân của ông Dương, có lẽ cao niên ở khu nhà tập thể này là bác Tôn Đức Lượng. Ơn giời, từ cái năm xa lắc đến bây giờ tôi thấy bác vẫn cứ vậy, như không thể già hơn. Mái tóc trắng cước chải lật hàng ria xén bằng chằn chặn nom rất oách. Hai anh em ruột quê ở Kinh Bắc, đi kháng chiến cùng về đầu quân cho ông Nguyễn Thanh Dương.
Người anh tên là Nguyễn Hữu Thống, từ khi trình bày số Báo Tiền Phong đầu tiên trên chiến khu Việt Bắc tháng 11/1953 có bút danh là Tôn Đức Lượng. Người em là Nguyễn Hữu Kinh, từ lúc chụp ảnh cho tờ Tiền Phong có danh ảnh là Mai Nam. Tất nhiên từ phóng viên ảnh Báo Tiền Phong đến Nghệ sĩ nhiếp ảnh Mai
Gọi bằng căn hộ cho oai chứ nó là cái ngăn, cái ô thì đúng hơn. Chả cần xây xiếc tạo dựng chi cho mệt, cứ đến khu nhà này lứa teen bây giờ chẳng cần phải hình dung tưởng tượng gì sất mà chạm mặt luôn với OK9giaitri đăng nhập khốn khó thời bao cấp các phóng viên chúng ta đã ăn ở thế nào? Ngăn gia đình bác Tôn Đức Lượng khoảng gần hai chục mét vuông dành cho 6 người không bao giờ có ánh sáng giời vì nó ở góc tầng một. Oái oăm lại áp sát nhà vệ sinh dùng chung cho ngót trăm người trong khu tập thể. Bên ngăn bác Lượng là ô của gia đình bảy người nhạc sĩ Phong Nhã, tác giả những ca khúc đi cùng năm tháng như Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn chúng em nhi đồng... Hoặc Nhanh bước nhanh nhi đồng mà bây giờ vẫn dùng làm Đội ca... Có lẽ bừng giấc sớm nhất trong khu nhà tập thể này là 2 ông cao niên họa sĩ và nhạc sĩ ấy. Nhưng oái oăm, phía trong nhà vệ sinh nhõn 2 buồng ấy lắm khi đã có người! Thế là hai cụ đành khư khư tờ giấy loại trong tay thả bước có vẻ đủng đỉnh trên lối đi chật hẹp như đang đàm đạo chuyện gì hệ trọng tâm đắc nhưng đều kín đáo ngó chừng về phía cái góc tầng một kia.
Năm tháng ấy cứ lừ lừ trôi đi với những tất tả lo toan. Bảo nhớ cái gì trước nhất về khu tập thể ấy ư thì tôi khai ra ngay hai chi tiết là cái cổng chung không thể thiếu dáng đủng đỉnh của bác Lượng với hàng ria ám khói thuốc oai vệ. Sau này bác bỏ thuốc nó trắng ra ngó là lạ? Và ngọn đèn Hoa Kỳ những đêm mất điện từ căn nhà bác Lượng hắt ra bên lối đi mỗi khi tôi đi đâu đó về khuya.
Ở cơ quan có cái khoái khi rảnh là được ngó bác Lượng trình bày báo. Thứ bất ly thân luôn theo bác ngoài cái xe đạp từ thời Pháp ghi đông vểnh ngược không có chắn bùn (mà bác nói đem từ chiến khu về) là cái bút bi bấm mấy màu cùng cây bút máy ngòi bè bè hiệu Waterman. (Khi đó chúng tôi đâu biết cái bút máy ngòi bè ấy đã góp phần bầu nên một Tôn Đức Lượng là chứng nhân lịch sử). Trời nực lắm khi bác đánh cái may ô. Có khi bác cắm cúi đọc cuốn gì đó bằng tiếng Pháp. Bác thường cười trêu lũ chúng tôi dốt lại lười học ngoại ngữ. Rằng hồi trẻ hơn các cậu nhiều, bọn tớ đã phải thông làu tiếng Pháp. Khi ấy mới biết bác là sinh viên khóa cuối Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1944.
Cứ mỗi năm, bác Lượng lại bặt đi đâu đó ít lâu. Sau mới biết đi sáng tác mỗi năm là 3 tháng theo tiêu chuẩn của Hội Nghệ sĩ tạo hình. Không nói ra nhưng đám chúng tôi coi cái vẻ lặng lẽ công chức của bác Lượng là thường. Từng là học họa trường Pháp, oách thế mà bác vẫn lặng lẽ, vẫn yên phận với chức việc họa sĩ trình bày kiêm minh họa báo. Hai họa sĩ chính (sau này có thêm Đặng Trần Thúy vợ Nghiêm Đa Văn) nhưng họa sĩ Đặng Thạc ngó nghiêm, cánh trẻ ít gần. Một lần Tổng Biên tập Đinh Văn
Hoạt và tươi hơn? Bây giờ khi ngồi mà gõ những dòng này, mới bừng thức về một tầm vóc Tôn Đức Lượng sau vẻ lặng lẽ cố hữu. Đã có từ trước cái ngày tôi về nhập tịch ở khu tập thể ấy cùng những năm tất tả bao cấp, họa sĩ Tôn Đức Lượng xong việc theo kiểu của mình rồi! Tôn Đức Lượng đã âm thầm găm từng miligram thuốc nổ để tạo nên một Big Bang của cuộc đời! Những ngày bình bình tẻ nhạt của tuổi sắp thất tuần, Tôn Đức Lượng đã bừng sáng với sự kiện tại Bảo Tàng Mỹ thuật Việt
Hàng trăm bức ký họa Tôn Đức Lượng đã vẽ những năm sáu mươi và đầu bảy mươi chất đống trên nóc tủ áo nhà Hàng Trống.
Cơ man nào là những lời khen tặng! Nào là, vốn là một họa sĩ thuần túy, Tôn Đức Lượng đã dành trọn tuổi thanh xuân cho những chuyến đi về phía bom đạn. Ông theo kháng chiến công tác và sáng tác, từ ký họa đến “trực họa” - sáng tác trực tiếp, “tại trận” như lời nhà phê bình Nguyễn Quân nhận xét: “Tác giả hi sinh cá tính sáng tạo, khiêm tốn lùi về phía sau làm một thư ký của thời đại”. Tiến sĩ Nora A.Taylor, Gáo sư Alsdorf về lịch sử mỹ thuật Ðông Nam Á (Học viện Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026
Những bức ký họa ấy không phải thẳng từ khu tập thể Hàng Trống đến thẳng Bảo tàng Mỹ thuật ở Nguyễn Thái Học. Số là, cái năm đã xa lắm, một ông bạn họa sĩ mượn của Tôn Đức Lượng một số ký họa khổ nhỏ dùng vào việc gì đó. Đến khi Tôn Đức Lượng đến xin lại thì đùng cái, không biết những bức ký họa ấy ở đâu? Cho đến khi người bạn họa sĩ đó mất, chúng vẫn biệt vô âm tín.
Thì ra bà vợ ông bạn họa sĩ ấy đã bán chúng cho một bà đồng nát. Ông hàng xóm của bà đồng nát thấy hay hay bèn mua lại theo phương thức bán cân. Ông này lại bán cho một nhà sưu tập tranh người Thái là Tira Vanichtheeranot vốn mê thích hội họa Việt
Trong một triển lãm các bức ký họa của 29 họa sĩ Việt Nam do ông Tira tổ chức ở Thái Lan, Hội đồng Di sản Quốc gia Singapore chỉ mua một số tranh của Tôn Đức Lượng.
Năm 2008, nhà sưu tập Tira đã mò đến khu tập thể xập xệ ở Hàng Trống hỏi xem còn bức nào không. Trong lúc Tôn Đức Lượng hoảng hồn thấy những bức ký họa lưu hằng bao năm nay trên nóc tủ áo nhiều bức đã lỗ chỗ vì mối mọt vì ẩm mốc thì ông Tira lại mê thích khi khui ra đống ký họa chất trên nóc tủ trong ngôi nhà ẩm thấp. Có điều ông Tira không lộ ngay ra cái thích ấy. Tôn Đức Lượng đành phải bán rẻ... Đó là 4 bộ ký họa: Mỏ than Cổ Kênh, huyện Chí Linh, Hải Dương 1967; Thanh niên xung phong Hà Tĩnh chống Mỹ cứu nước 1970-1971; Khu OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao thanh niên 1971-1972 và Nông trường nuôi bò Moncada, Mộc Châu, 1974.
Mua xong, Tira Vanichtheeranot nói luôn: “Tôi sẽ in sách cho ông và sẽ triển lãm cho ông ở Hà Nội và Sài Gòn, sẽ mang đi khắp các nước Đông Nam Á”.
Cuộc Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 coi vậy là xong. Hôm sau, Tôn Đức Lượng ngạc nhiên khi thấy nhà sưu tập kéo đến 5 ông họa sĩ người Thái. Họ tò mò hỏi chủ nhân đã thực hiện các bức ký họa trên bằng loại bút gì? Họa sĩ phì cười. Tiếc cái chiếc bút máy Waterman đã mất từ lâu. Chiếc bút đã được ông bẻ ngòi cho cong và bè ra. Khi vẽ ông để ngửa ngòi bút. Ông dựng bút lên thì nét vẽ nhỏ, càng hạ bút thấp xuống thì nét càng to. Cho đến khi dính cái lỗ mực ở ngòi vào tờ giấy thì ông có thể phết những mảng màu đen. Đại loại thế. Hỏi ông vì sao không vẽ nữa, ông bảo tuổi già, hết hứng. Nhưng còn một lý do là chiếc Waterman tự chế đã bị mất.
Trong hàng trăm bức ký họa ấy, không có một người già nào. Tuyền thanh niên. Đọc ra và nhìn thấy một thế hệ Việt dũng cảm chịu thương chịu khó qua những lát cắt của Tôn Đức Lượng, một ông già sắp cửu thập, người hiếm hoi sót lại của Trường Mỹ thuật Đông Dương.
Thế mà oái oăm, bao năm nay chả ai thấy, lại phải cậy nhờ thứ mắt xanh của một người nước ngoài?