"Tỳ Bà truyện" là một truyện thơ dài 1.548 câu và cũng là tác phẩm có dung lượng đồ sộ nhất trong sự nghiệp thi ca của Nguyễn Bính. Tác phẩm mang dáng dấp của thể loại truyện tài tử giai nhân, vốn là một thể tài được ưa chuộng trong văn học Việt Nam thời kỳ trung đại, đã đạt đến những đỉnh cao qua các tác phẩm như "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, "Hoa Tiên truyện" của Nguyễn Huy Tự, "Nhị Độ Mai" của Lý Văn Phức (?). Cốt truyện của "Tỳ Bà truyện" được mô phỏng từ vở tuồng "Tỳ Bà Ký" của Cao Minh, một tác phẩm nổi tiếng thời kỳ Minh sơ (thế kỷ XIV).
Vở tuồng "Tỳ Bà ký" kể về câu chuyện Sái Ung kết hôn với Triệu Ngũ Nương, nhờ vợ làm lụng vất vả nuôi cho ăn học, sau thi đậu trạng nguyên, cưới con một vị thái sư, quên hẳn người vợ tao khang khi trước. Vợ ở nhà hết lòng nuôi cha mẹ chồng, không quản khó khăn, không tỏ một lời than vãn. Khi cha mẹ chồng chết, nàng ôm tỳ bà lên kinh tìm chồng, gặp chàng ở phủ quan thái sư. Chàng nhận ra vợ, từ đó lại đoàn viên…
Nguyễn Bính đã mượn cốt truyện của vở tuồng "Tỳ Bà Ký" của Cao Minh đời Minh để viết truyện thơ "Tỳ Bà truyện". Ông giữ nguyên phần lớn nội dung, chỉ thay đổi đoạn kết: Người vợ là Triệu Ngũ Nương lên kinh, gặp chồng nhưng chồng không nhận, nàng buồn rầu cắn máu tay viết một bài thơ lên bức tranh có hình cha mẹ chồng, nhờ sư ông chuyển bức tranh tới chồng mình là Trạng nguyên Thái Bá Giai, còn bản thân thì xuống tóc đi tu và từ đó không ai nhìn thấy nàng Ngũ Nương nữa: "Từ lưu lạc với cây đàn/ Chẳng còn ai thấy bóng nàng Ngũ Nương…".
Như vậy, Nguyễn Bính đã cố tình thay đổi phần kết trong nguyên tác, tạo ra một kết thúc mới nhằm phá vỡ lối mòn "kết có hậu" trong những truyện thơ Việt Nam tất cả các thời kỳ trước đó. Nhưng theo tôi, một trong những đóng góp quan trọng và đặc sắc nhất của "Tỳ Bà truyện" là ở chỗ tác giả đã có nhiều đoạn tả về sex có một không hai trong lịch sử thi ca Việt Nam. Bản thân việc tả về sex vốn là một điều cấm kỵ bất thành văn trong thi pháp của văn học trung đại, một lối thi pháp trong sự ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức Nho giáo, chỉ định con người tránh không được nói đến những tình cảm riêng tư (tính phi ngã), cụ thể là không được nói về tình yêu lứa đôi, nói gì đến những miêu tả tính dục.
Trước Nguyễn Bính, văn chương bác học của thời kỳ trung đại Việt
"Bên ngoài mưa gió mùa đông/ Lò than đã nguội sáp hồng sắp vơi/ Màn the đôi cánh buông rồi/ Chăn hương gối phấn một trời phấn hương/ Mắt ngà men rượu yêu đương/ Thái sinh dần rõ Ngũ Nương nõn nà/ Tóc nhung viền suốt thân ngà/ Nhụy hồng e ấp tình hoa đầu mùa/ Rùng mình như nếm mơ chua/ Cái tê tái muốn vỡ bờ hợp hoan/ Nóng sôi ý phượng tình loan/ Hỡi ôi! bó thắt đôi làn cánh tay/ Thèm mà nín, khát mà say/ Xốn xang nhựa mạnh tuôn đầy búp tơ/ Mày cao hai má chín nhừ/ Tân nhân ứa lệ hoen mờ mắt xanh/ Thoắt mà đêm đã tàn canh/ Sáng bong bóng cá qua mành mưa bay/ Nhành hoa tươi ngại ánh ngày/ Tiếng gà ướt mượt giọng đầy nước mưa…".
Trừ 4 câu đầu mang tính chất mở màn, dẫn nhập, 16 câu sau đích thực tả một cảnh phòng the từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc. Sự khác biệt cơ bản giữa dâm thư thô tục và văn học chính thống là ở chỗ nhà văn phải biết huy động ngôn từ như một trường cộng hưởng đồng thời thể hiện theo con đường gián cách mà tránh không được tả chân.--PageBreak--
Nguyễn Bính đã làm được điều đó trong đoạn thơ trên qua việc huy động một loạt các danh từ, động từ và tính từ chỉ bối cảnh cảm giác giao hoan: sáp hồng, chăn gối, màn the, phấn hương, men rượu, buông (màn), e ấp, rùng mình, tê tái, vỡ bờ, nóng sôi, bó thắt, thèm, khát, say, xốn xang, mạnh, tuôn, chín nhừ, ứa lệ, ướt mượt. Riêng 3 câu cuối còn dùng thủ pháp của Được vận hành bởi Liên Minh OKVIVP, không quay trực tiếp hình ảnh trung tâm mà quay những cảnh ngoại biên để làm rõ tinh thần muốn thể hiện. Riêng cách diễn đạt "giọng đầy nước mưa" quả là một sáng tạo mang thương hiệu Nguyễn Bính. Và tiếp theo là đoạn thứ hai gồm 22 câu:
"Ngọc Nương môi mọng yên chi/ Áo xiêm tuần tự biệt li thân ngà/ Cổ tay nõn tháo vòng ra/ Rút trâm tóc xổ màu da thêm nồng/ Đường cong ôi những đường cong/ Đến đong đưa đến não nùng đến hay/ Cao cao thôi lại dày dày/ Trắng trong màu tuyết tròn đầy gương nga/ Thái sinh rạo rực tình hoa/ Ôi con bướm lại lân la nhụy đào/ Hoa xuân đêm mới nghẹn ngào/ Người đen bạc lại đắm vào phấn son/ Cành tơ nõn, búp xuân tròn/ Mày cong nét liễu môi son hình thuyền/ Khó khăn cũng thể lên tiên/ Xót xa cũng thể thuyền quyên gặp chồng/ Lụa đào xé lẻ hư không/ Cái son mất mát cái hồng ngổn ngang/ Chúa xuân sao nỡ vội vàng/ Tình xuân gắn chặt cánh màn lan tiêu/ Chán chường gối lệch chăn xiêu/ Tay non rời rã nét kiều châu chan".
Ở trường đoạn thứ hai này, ta thấy bút pháp của Nguyễn Bính tỏ ra bạo hơn, mạnh dạn hơn qua việc tả trực tiếp nhiều cận cảnh, nhiều vùng nhạy cảm trên thân thể một bông hoa biết nói: môi mọng, áo xiêm biệt li, cổ tay nõn, màu da hồng, những đường cong, cao cao dày dày. Nhưng nhà thơ cũng chỉ dừng tại đây mà không thể tả chân nhiều hơn nữa.
Cách diễn đạt lập tức chuyển sang Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 gián cách với những hình ảnh ẩn dụ, ít nhiều mang màu sắc ước lệ: tình hoa, con bướm, nhụy đào, hoa xuân đêm mới, phấn son, nét liễu, hình thuyền, tình xuân, màn lan tiêu. Hai câu cuối đoạn là đỉnh điểm của một cuộc phong tình, lại quay trở về với giọng tả thực song có điểm thêm vài từ hoa mỹ (non, kiều, châu chan), tạo nét nhã cho sự diễn đạt: Chán chường gối lệch chăn xiêu/
Và cuối cùng là đoạn thứ ba với 14 câu, như một "hiệp 2" của cuộc ân ái giữa Thái Bá Giai và vợ mới Ngọc Nương: "Đêm xuân ai bảo là dài/ Đã tàn bóng sáp đã phai hương trầm/ Má hồng là đá nam châm/ Tu mi là sắt để nằm cạnh nhau/ Bình cam lộ, ánh lưu cầu/ Trộn chung hai suối một màu mây xanh/ Não người những nét đồng trinh/ Thân tơ lả lả lửa tình xiêu xiêu/ Dâng lên như nước thủy triều/ Hoa nuông ý bướm bướm chiều tình hoa/ Sáp không ai nối nữa mà/ Động phòng bỗng chốc chan hòa bóng đêm/ Tiếng xô chăn gối êm đềm/ Nhỏ to hơi ngắn giọng mềm lả lơi…".
Bút pháp của đoạn thứ ba này chia ra hai phần, 10 câu đầu sử dụng ước lệ và các ẩn dụ mang phong cách cổ điển, kết hợp với một số diễn đạt theo kiểu so sánh. Có thể kể ra các từ ngữ gợi cảm điển hình như: bóng sáp, hương trầm, má hồng, tu mi, cam lộ, lưu cầu, hai suối, đồng trinh, thân tơ, lửa tình, hoa, bướm.
Ở 4 câu tiếp theo, Nguyễn Bính từ bỏ bút pháp ước lệ, ông dùng phép tả thực nhưng khúc xạ tinh tế qua hai lăng kính, đó là thời gian và âm thanh. Thời gian lúc này thuộc về bóng đêm, khi sáp đã "không ai nối". Âm thanh từ "động phòng" đã đi đến chỗ được miêu tả cận cảnh hơn với "tiếng xô chăn gối" và "nhỏ to hơi ngắn giọng mềm lả lơi". Có thể hình dung hai câu cuối này được thiết kế, sắp đặt như một phép hoán dụ, qua đó, nhà thơ dùng âm thanh phòng the để tả cho một cuộc ái ân. Âm điệu dặt dìu của thể thơ lục bát khiến câu thơ như tình tứ hơn, quyến rũ hơn, chìm lắng mà miên man…
Với ba đoạn thơ sex gồm 56 câu mà chúng tôi đã giới thiệu, Nguyễn Bính, có thể nói, là một trong những thi sĩ đã thể hiện những đóng góp, đổi mới rất táo bạo về mặt thi pháp trong thời kỳ Thơ mới (1932 - 1945), cụ thể là qua những miêu tả về sex, về tính dục trong thơ. Nguyễn Bính và Xuân Diệu, hai thi nhân sáng giá của phong trào Thơ mới, một người thì rất quen, một người thì rất mới, đã cùng có những vần thơ thật táo bạo về tình yêu, về sự luyến ái thân xác giữa nam và nữ. Nguyễn Bính thì đi theo lối rất phương Đông, Xuân Diệu thì đi theo lối rất phương Tây, nhưng cả hai cùng để lại những câu thơ có sức sống lâu dài…