Lịch sử văn học Việt đã chứng kiến nhiều nỗi "hận biệt ly" muôn đời như thế. Người viết bài này xin được hoài niệm về những áng văn chương nổi tiếng của một thời mà những thi nhân, văn nhân đã dùng huyết lệ viết nên để khóc thương cho người yêu - người vợ - người tình của mình.
Văn học Trung đại Việt
Tiếp sau Nguyễn Kiều, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) đã viết tới 20 bài thơ khóc vợ, tập hợp thành tập Khuê ai lục nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt
Cùng thời với Ngô Thì Sĩ, Phạm Nguyễn Du (1739-1786) cũng dành cả một tập Đoạn trường lục để ai điếu vị thê tử yêu dấu. Ông ôm quan tài vợ một mình xuôi thuyền từ Thăng Long về Hà Tĩnh: Ta ngã hòa nương thị nhất nhân/ Như hà tương hợp cự tương phân/ Nương huề nhất bán thanh hương khứ /Lưu ngã si cuồng nhất bán thân (Khi trước nàng ta vốn một người /Sao đang sum họp lại chia phôi/ Thanh hương nửa ấy theo nàng mất/ Một nửa si cuồng để lại tôi).
Minh họa: Lê Phương
Sẽ là rất thiếu sót nếu khép lại thế kỷ XVIII của văn học Việt Nam mà không nhớ tới bài thơ dài 164 câu Ai tư vãn của Lê Ngọc Hân khóc Hoàng đế Quang Trung năm 1792. Trước Lê Ngọc Hân, ta chỉ quen gặp giọt nước mắt của những người Ok986 vip Thiên đường trò chơi khóc thương thê tử, còn đây mới là nỗi xót xa nghẹn ngào của người phụ nữ khóc thương chồng: Nẻo u minh khéo chia đôi ngả/ Nghĩ đòi phen nỗng nã đòi phen/ Kiếp này chưa trọn chữ duyên/ Ước xin kiếp khác vẹn tuyền lửa hương (…) Con trứng nước thương vì đôi chút/ Chữ tình thâm chưa thoát được đi/ Vậy nên nấn ná đòi khi/ Hình tuy còn ở, phách thì đã theo.
Có một người phụ nữ nữa với những vần thơ khóc chồng nhưng mang phong cách hoàn toàn khác với Lê Ngọc Hân, đó là nữ sĩ Hồ Xuân Hương với hai bài Khóc Tổng Cóc và Khóc ông phủ Vĩnh Tường thuộc nửa đầu thế kỷ XIX: Chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi/ Thiếp bén duyên chàng có thế thôi/ Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé/ Nghìn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi; Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ơi/ Cái nợ ba sinh đã trả rồi/ Chôn chặt văn chương ba thước đất/ Tung hê hồ thỉ bốn phương trời…
Và văn học chữ Nôm đầu thế kỷ XIX sẽ không bao giờ quên được Phạm Thái cùng kiệt tác Văn tế Trương Quỳnh Như. Chuyện kể rằng, Phạm Thái chơi với anh ruột Trương Quỳnh Như, thế rồi gặp nàng và đem lòng yêu mến. Quỳnh Như cũng yêu Phạm Thái tha thiết.
Thế nhưng mẹ cha ngăn trở, bắt nàng phải lấy một người nhà giàu trong vùng. Quỳnh Như uống thuốc độc tự tử. Phạm Thái đau xót viết nên bài văn tế này, từ đó giang hồ uống rượu lang thang và qua đời khi mới 36 tuổi: Nương tử ơi, chướng căn ấy bởi vì đâu, oán thác ấy bởi vì đâu, cho đến nỗi xuân tàn hoa nụ, thu lẩn trăng rằm.
Lại có điều đau đớn thế, nhà huyên ví có năm có bảy mà riêng mình nàng đeo phận bạc thì cơn lửa nguội nước vơi còn có nhẽ. Thương hại thay! hoa có một cành, tuyết có một quãng, nguyệt có một vầng, mây có một đóa: thân là thân hiếm hoi chừng ấy, nỡ nào đổi lấy mấy mươi năm làm một kiếp rồi ngơm ngớm chốn non Bồng nước Nhược, đỉnh gì không đoái cõi phù sinh (…)
Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên. Nàng long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tang tính mệnh. Cho đến nỗi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm. Chua xót cũng bởi vì đâu, não nuột cũng bởi vì đâu? Nay qua nấm cỏ xanh tưởng người phận bạc, sụt sùi hai hàng tình lệ, giãi bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài tỏ cùng nương tử.
Sang nửa cuối thế kỷ XIX có thêm hai bài thơ khóc vợ, bài thứ nhất là Điệu nội của Nguyễn Khuyến: Cân trất truy tùy ngũ thập niên/ Ỷ hòe nhất mộng dĩ thành miên/ Bạch câu hốt hốt hữu như thị/ Thanh trũng luy luy thùy bất nhiên/ Tịnh thổ an tri phi nhĩ lạc/ Trần đồ vị tất vọng nhân liên/ Nhược giao ngã thọ như Bành Tổ/ Bát bách xuân thu kỷ khấp huyền (Sống chung mấy chục năm trời/ Gốc hòe một giấc kéo dài nghìn thu/ Bóng cầu thấp thoáng thế du/ Lô nhô đám mộ có chừa riêng ai/ Biết đâu cõi Bụt chẳng vui/ Đường trần chi phải mong ai thương mình/ Nếu ta sống tựa ông Bành/ Tám trăm năm ấy khóc tình bao phen).
Bài thứ hai là Khóc Bằng Phi của Tự Đức. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu gần đây, nhiều người lại cho rằng Khóc Bằng Phi là một sáng tác của Nguyễn Gia Thiều. Toàn văn bài thơ nôm thất ngôn bát cú như sau: Ới thị Bằng ơi đã mất rồi/ Ới tình ới nghĩa ới duyên ơi/ Trưa hè nắng chái oanh ăn nói/ Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi/ Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ Xếp tàn y lại để dành hơi/ Mối tình muốn dứt càng thêm bận/ Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi. Cảm khái về bài thơ được coi là của Tự Đức, một nhà thơ của thế kỷ XX đã viết: Mỹ nữ trăm người chỉ còn lại một người/ Thơ viết nghìn bài còn một bài khóc vợ/ Lăng tẩm đền đài chẳng làm người bất tử/ Chỉ giọt lệ thương người còn mãi với người thôi (Bất tử - Đặng Hiển).
Không chỉ có thơ, văn học Trung đại Việt Nam còn lưu giữ được nhiều câu đối cảm động khi tình vợ chồng li biệt: Nhà chỉn rất nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng, tất tưởi chân đăm đá chân chiêu, vì tớ đỡ đần trong mọi việc/ Bà đi đâu vội bấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, tóc búi củ hành, buông quần lá tọa, gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm (Câu đối khóc vợ - Nguyễn Khuyến); Đất chẳng phải chồng, sao nỡ thịt xương gửi đó/ Trời mà mất vợ, thử xem gan ruột mần răng (Câu đối khóc vợ - Bùi Hữu Nghĩa).
Sang thế kỷ XX, Thơ Mới lãng mạn, thơ ca chống Pháp và chống Mỹ đều có những thi phẩm vắt ra từ nỗi đau. Thi phẩm nổi tiếng Mười hai tháng sáu đã góp phần đưa tên tuổi của Vũ Hoàng Chương lên một trong những vị trí đỉnh cao của phong trào Thơ Mới.
Bài thơ dành cho người con gái mang tên Kiều Tố Thu: Tháng sáu mười hai từ đấy nhé/ Chung đôi từ đấy nhé lìa đôi/ Em xa lạ quá đâu còn phải/ Tố của Hoàng xưa Tố của tôi/ Men khói đêm nay sầu dựng mộ/ Bia đề tháng sáu ghi mười hai/ Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc/ Tố của Hoàng nay Tố của ai/ Tay gõ vào bia mười ngón rập/ Mười năm theo máu hận trào rơi/ Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp/ Khúc Cổ Bồn Ca gõ hát chơi.
Sang thời chống Pháp, người yêu thơ Việt
Họ so sánh với tuyệt phẩm Mùa thu của thi sĩ Boris Pasternak và phát hiện ra sự trùng hợp ngẫu nhiên của hai khúc bi tình: chúng đều được viết vào năm 1949: Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại/ Lấy chồng thời chiến chinh mấy người đi trở lại/ Lỡ khi mình không về/ Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê/ Nhưng không chết người trai khói lửa/ Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
Một điều không thể phủ nhận là thi phẩm của Hữu Loan đã tạo ra một hiệu ứng kỳ lạ và mạnh mẽ trong suốt thể kỷ XX với 5 bản nhạc phổ (Dzũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng, Duy Khánh, Thương Linh) và gợi cảm hứng cho sáng tác của nhiều nhạc sĩ khác (Thu Hồ, Nguyễn Đặng Mừng, Hồng Vân, Trần Thiện Thanh).
Cuối cùng, chúng tôi muốn nhớ đến hai bài thơ trong thời kỳ chống Mỹ 1954 - 1975. Đó là hai tác phẩm Núi Đôi của Vũ Cao và Quê hương của Giang
Thế nhưng, chính những câu thơ đau xót trước cái chết của người yêu trong hai thi phẩm lại là những câu được người ta nhớ đến nhiều nhất: Anh ngước nhìn lên hai vách núi/ Hàng cây bờ cỏ con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em (Núi Đôi - Vũ Cao); Giặc bắn em rồi quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích em ơi/ Đau xót lòng anh chết nửa con người/ Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm/ Có những ngày trốn học bị đòn roi/ Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi (Quê hương - Giang Nam).
Khi thơ ca trào ra cùng máu và nước mắt thì sự chân thành luôn là điều hiển nhiên tồn tại. Những tác phẩm như thế sẽ sống mãi bởi người nghệ sĩ đã cháy trọn tâm cảm của mình cho một tâm tình thiêng liêng. Tác phẩm đến với độc giả và lại có thêm những OK9giaitri đăng nhập mới, khiến mỗi người biết sống nhiều hơn với những nâng niu và yêu thương giữa cuộc đời