Cách đây chừng hơn sáu thế kỷ, không phải ngẫu nhiên mà kịch tác gia vĩ đại thời Phục hưng Sếch-si-pia đã dành đến vài trăm chữ cho Hămlét xõa tóc, toát mồ hôi vật vã bàn về "Tồn tại hay không tồn tại". Rồi sau đó, triết gia Đề Các lại nói "Tôi tư duy nghĩa là tôi tồn tại"...
Đấy là những mệnh đề triết học mà chỉ cần học qua trung học thôi, chịu lưu tâm, chúng ta đều biết và nhớ.
Xét trên đại cục của OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao, chúng ta đã làm Cách mạng Tháng Tám 1945, chúng ta đã phải trường kỳ đánh giặc giữ nước, thống nhất non sông. Và hơn bốn mươi năm, sau cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, do sự phát triển của lịch sử, thời đại, chúng ta lại tiến hành công cuộc cách tân - đổi mới.
"Tổ quốc hay là chết!", "Đổi mới hay là chết!", với chúng ta không còn là khẩu hiệu.
Bây giờ xin được trở lại lĩnh vực văn chương, Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, lĩnh vực của chúng ta.
Thật khó mà hình dung lĩnh vực này sẽ ra sao nếu tổ tiên ta không có chữ Nôm, để bằng những ký tự ấy ghi lại qua hàng ngàn năm những đặc sắc của ngữ nghĩa, ngữ điệu... tiếng nói Việt, làm cơ sở cho sau đó chúng ta La-tinh hóa chữ Việt vào thế kỷ XIX, sử dụng một cách tuyệt vời cái ưu thế của dòng sông ngôn ngữ từ phương Tây này? Phát triển cải tiến ngôn ngữ ở đâu cũng là điểm khởi nguyên của văn chương.
Làm sao mà hình dung ra kiệt tác (lục bát) Truyện Kiều, kiệt tác Chiêu hồn văn (song thất - lục bát) của Nguyễn Du, nếu trước đó, chừng nửa thế kỷ, không có hai kiệt tác, cũng bằng thể loại thơ đó, là Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm. Và cả ba vị khổng lồ này sẽ ra sao nếu không có ca dao và tài năng Việt hóa thơ Đường qua cả ngàn năm? Chúng ta làm sao có được đến hơn ba ngàn câu lục bát của Nguyễn Du, để thẩm thấu cái khoảng "Trăm năm trong cõi người ta", "Trải qua một cuộc bể dâu" nếu không có những "Cái quay búng sẵn trên trời/ Lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm", "Trăm năm nào có gì đâu/ Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì" của Nguyễn Gia Thiều? Làm sao có được cái tung hoành của Từ Hải khi tung các đạo quân "Đạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Truy" khi chưa được mở ra từ "Chinh phụ ngâm": "Khi Hán xuống Bạch Thành đóng lại/ Khi Hồ vào Thanh Hải dòm qua/ Hình khe thế núi gần xa/ Đứt thời lại nối, thấp đà lại cao...". Rồi, với hai cặp song thất, lục bát, Nguyễn Du đã nói với chúng ta những đoạn đời đời đoạn của chính kiếp văn nhân trong Thập loại chúng sinh: "Có những kẻ rắp mong cầu quí/ Sớm hôm tìm đô thị lân la/ Mấy năm lìa cửa lìa nhà/ Văn chương đã biết đâu mà thí thân!...".
Thế rồi cuộc cách tân Thơ Mới cách đây hơn nửa thế kỷ, khi Việt ngữ La-tinh đã đi vào ngóc ngách của mọi suy ngẫm, cảm xúc. Những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử... đã từng bị cụ Nghè Huỳnh Thúc Kháng dọa chém, dữ dằn đến độ khiến Hoài Thanh cũng phải một phen hú vía khi ông viết: "Cũng may mà cụ Nghè chưa kịp làm Tể tướng nên cánh họ Lưu (Lưu Trọng Lư) vẫn sống để làm thơ như thường!". Chuyện thì có vẻ vui, nhưng không khỏi giật mình khi ta biết cụ Nghè Huỳnh vốn là một người chân thành, khí tiết, uyên thâm, một nhà yêu nước lớn, sau này rất gắn bó với cách mạng, vậy mà trước cái lĩnh vực ngỡ như đơn giản, mua vui, nhưng lại phức tạp và phong phú này, cụ cũng đã có những khoảng hạn chế nào đó...
Và gần đây hơn, ở Việt Bắc năm 1948, sau khi đã có không ít những tác phẩm thơ mở ra thời kỳ thơ ca cách mạng, kháng chiến rất quí giá của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Quang Dũng, Hồng Nguyên, Chính Hữu, Hoàng Cầm... cuộc hội thảo về thơ không vần, thơ tự do vẫn gặp không ít những ngộ nhận, khó khăn...
Tôi xin mạn phép các vị nhắc lại đôi dòng lược sử mà dường như ai cũng biết ấy để thấy rằng sáng tạo, đổi mới, cách tân, cách mạng, đúng là lẽ sống, lẽ tồn tại cho mọi lĩnh vực, cho cả cuộc sống, bao giờ cũng vô chừng vất vả, gian nan, vô chừng mồ hôi, nước mắt, trí não, can đảm, hy sinh. "Cả thế gian bao la có thể/ Vào sống nhờ trong một câu thơ/ Vậy mà khi một câu thơ lâm nạn/ Cả thế gian bao la không chốn nương nhờ". Quá khứ không chỉ có một Cao Bá Quát, một Thánh Thán, một Galilé...
Nhưng làm sao mà khác được khi cuộc sống và sự tồn tại đã khác? Chính từ những đòi hỏi của cuộc đời mà mọi lĩnh vực đều phải đổi mới, cách tân. Nếu chúng ta đồng ý "Văn là Người, Văn là Đời" thì không thể không chủ động tích cực sống, tích cực học, tích cực tìm tòi để có thể chủ động đồng hành với cái logic: Bằng truyền thống của tiềm thức, tri thức Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026, nhân loại, chúng ta mới có thể nhận thức đương đại, tương lai, rồi ngẫm ngợi, cảm xúc để thành văn chương Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026. Và, cố nhiên, thậm chí tưởng như hồn nhiên, thời đại mới đòi hỏi những cách diễn đạt mới trước những cảm xúc mới!
Thơ ca dân gian cũng thế. Thơ ca bác học lại càng cần thế. Sau hàng ngàn năm ca dao chúng ta mới có lục bát Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính... Và chắc chắn ca dao hiện đại cũng sẽ mới mẻ hơn sau khi có các đại gia kia!...
Tôi xin lấy một vài ví dụ ngắn, gọn về mối quan hệ giữa cách tân và truyền thống trong thơ hôm nay:
Cây ngải đắng cũ xưa như trái đất, lại bị quên giữa rừng hoang, chợt có một ngày gặp Phạm Tiến Duật để được chia sẻ cùng đất với người hôm nay nỗi đắng cay và niềm an ủi, hy vọng: "Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng/ Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay".
Hương bồ kết đã quá quen nơi tóc ai và nơi ca dao, bỗng có một ngày hồi sinh trong tâm tình của những chàng lính trẻ, một đám toàn con trai, trên một trận địa chốt cuối thế kỷ XX khi nhớ về ai đó, mà chắc Nguyễn Bính quê hương của rất nhiều hương quê, có sống lại cũng không thể viết như lứa con cái ông ta là nhà thơ lính Hữu Thỉnh: "Ước gì có chút hương bồ kết/ Cho đá mềm ra, đất ấm lên".
Và cũng chính chàng lính này đã rất mực lo âu khi cảm thấy có một lúc nào đấy, ở một nơi nào đấy, tình yêu thương, nhân hậu và lòng tin bị rơi vào thế mong manh: "Còn chút lửa hoa dong giềng cuối dậu/ Sợ một chiều sương muối xuống mang đi".
Có người gọi Nguyễn Duy là vua lục bát. Riêng tôi thì chỉ xin được tôn phong anh ta là một tiểu vương của một vương quốc nhỏ, nhưng đặc sắc nào đó, trong đại quốc lục bát. Và cũng lạ lùng, cái ông nhà thơ hết sức hiện đại này, lại được chính cái kiều diễm của nàng ca dao xưa "hiện đại hóa" ông ta! Hàng nghìn nhà thơ viết về sợi - tóc - đời - người, kể từ Đông thi, Tây thi đến Việt thi, nhưng mấy ai đã viết nên cái sợi tóc ấm áp, êm ái, mà cực kỳ gian truân, như sợi tóc người lính trận gần trọn đời đánh giặc giữ nước, chỉ biết có tự gối đầu tay: "Có người ngủ thế thành quen/ Đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình". Cái sợi tóc tuyệt vời này trong thơ Nguyễn Duy, không biết từ bao giờ, đã có lúc nào quấn quanh cái cổ tay tuyệt vời trong lời ca quan họ: "Cổ tay đã trắng lại tròn/ Ai để ai gối đã mòn một bên". Đây quả thực là một sự cộng hưởng vô cùng đáng yêu giữa xưa và nay trong văn chương.
Biết bao mùa thu đã đi qua trong văn chương, hội họa, âm nhạc. Nhưng thế hệ chúng tôi đã có một mùa thu mà Bằng Việt đã nhận ra và kể lại như một sự sững sờ: "Vườn vàng phơi lá thu/ ánh sáng mênh mông trước mặt quân thù/ ánh sáng tinh khôi như trong mắt trẻ/ Soi hạnh phúc tự hào đơn giản thế/ Mà bao ngày tôi chưa nghĩ ra!...".
Các nhà thơ sau 1975 thế nào? Cũng không ít bài thơ, câu thơ hiện đại mà thăm thẳm tiềm thức, tâm hồn Việt
Để kết thúc bài viết nhỏ này, tôi xin được nói hai điều cảm ơn:
1. Cảm ơn hàng ngàn năm ca dao và thơ đã cho tôi được đến với những thi phẩm xúc động của những người viết hôm nay.
2. Cảm ơn những nhà thơ trẻ nối tiếp nhau từ 1975 đến nay đã cuốn hút cảm hứng của thế hệ chúng tôi mở ra nhiều hướng; cho chúng tôi được sống trong sự tươi trẻ hồn nhiên, trong trẻo, trong cả sự suy ngẫm mới mẻ, khiến chúng tôi tin rằng sự cách tân, đổi mới bao giờ cũng chính là những lẽ sống! Nó phải bắt nguồn từ sự phong phú của chính OK9giaitri đăng nhập của nội lực trí tuệ, cảm xúc, tài năng, chứ không bao giờ là sự học đòi, chắp vá ngoại lai nào đó. Không có OK9giaitri đăng nhập và nội lực thì chúng ta sẽ trượt mãi trên cái đà "Cố làm lạ câu thơ/ Lại tưởng là thơ lạ".
"Đại giác (thì) Đại mộng". "Giác" ở đây chắc mọi người đều hiểu là sự mở ra phong phú của OK9giaitri đăng nhập và cái nội lực trí tuệ giầu có của mỗi người viết. Và "Đại mộng" chắc là những tư tưởng lớn, giấc mơ lớn, những hiện thực lớn ở những tác phẩm! Sự kiêu ngạo, ghen ghét nào cũng sẽ trở thành hợm hĩnh, ngớ ngẩn trước "Đại giác - Đại mộng".
Xin cảm ơn Hội nghị