Judith Coplon sinh tại khu Brooklyn, thành phố New York, ngày 17/5/1921. Gia đình bà có gốc gác di cư từ nước Phổ sang Mỹ vào thời kỳ nội chiến nước Mỹ thế kỷ XIX. Ông cố bà từng tham gia quân đội miền Bắc và bị giam trong trại tù Andersonville khét tiếng tàn ác của quân đội miền Nam.
Thời trung học, Coplon từng được tặng thưởng danh hiệu "Công dân tốt" và được trao học bổng toàn phần để theo học Trường cao đẳng Barnard, tốt nghiệp hạng danh dự vào năm 1943. Chính tại Trường cao đẳng Barnard, Coplon đã tiếp xúc và tham gia vào tổ chức Liên đoàn Thanh niên Cộng sản (Young Communist League - YCL). Một năm sau khi tốt nghiệp cao đẳng (1944), Coplon được tuyển dụng vào Bộ Tư pháp Mỹ, Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 tại Cục Quản lý nhân viên nước ngoài (FARS), nơi tiếp nhận và xử lý các báo cáo phản gián do Cục Điều tra liên bang (FBI) gửi đến.
Trong thời gian Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 cho Bộ Tư pháp Mỹ, không ai biết được Coplon bắt đầu làm gián điệp cho Liên Xô từ lúc nào, nhưng theo "hồ sơ điều tra" của FBI thì Coplon bắt đầu được Cơ quan Tình báo Xôviết tuyển mộ vào năm 1944. Theo FBI, Coplon đã từng quen biết và thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc với một người Nga tên là Valentin A. Gubitchev.
Hồ sơ phản gián của FBI sau này cho biết, Gubitchev chính là một "con cá lớn" trong mạng lưới điệp viên Liên Xô hoạt động tại Mỹ thời đó. Công tác chính thức của Gubitchev là đại diện ngoại giao của Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc. Do vị trí công tác của mình trong Bộ Tư pháp, Coplon ngay lập tức bị FBI đặt vào tầm ngắm và theo dõi sát cả ngày lẫn đêm.
Theo các sử gia, do bị ám ảnh bởi hoạt động gián điệp rất mạnh của Liên Xô nên Cơ quan Phản gián Mỹ nhìn đâu cũng thấy "gián điệp". Chỉ cần một mối quan hệ không rõ ràng mà Coplon có được khi tiếp xúc với Gubitchev cũng đủ để bà trở thành "ưu tiên số 1" để FBI ngày đêm "chăm sóc cẩn thận". Nhưng với Gubitchev thì hình như FBI không hề lầm. Ông đích thực là một điệp viên Xôviết.
Năm 1948, trong lúc FBI mải theo dõi Coplon, thì các cơ quan tình báo Mỹ tham gia một dự án phản gián mang mật danh “Venona” đã vô tình chặn được một bức điện mật của tình báo Liên Xô trong đó đề cập việc một "nữ điệp viên" có mật danh là “Sima”, với tính chất Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP của mình có thể giúp "chúng ta" tìm hiểu đầy đủ hơn bên trong hoạt động phản gián của Mỹ.
Có trong tay bức điện này, kết hợp với việc đọc trộm và giải mã các bức điện ngoại giao của đại sứ quán Liên Xô gửi về nước, FBI càng quả quyết hơn rằng Coplon đích thị là "gián điệp Xôviết". Nhưng để tóm được "con cá" thì FBI không thể chỉ dựa vào một bức điện tín tình báo và những bức điện ngoại giao để kết luận người nữ điệp viên mang bí danh “Sima” đó chính là Coplon, cần phải có bằng chứng "quả tang". Và bằng chứng đã được FBI nặn ra: một bức thư tín giả với nội dung nói về năng lượng hạt nhân đã được các điệp viên FBI ngầm gửi "mớm" cho Coplon để gài bẫy bà.
Ngày 30/3/1949, một đội quân FBI gồm 30 nhân viên phản gián và ngần ấy xe chuyên dụng được huy động để theo dõi mọi hành động của Coplon ở khu Manhattan. Coplon đổi phương tiện liên tục, khi thì đi xe điện ngầm, lúc đi xe buýt và xe lửa trên cao, để đi đến gặp Gubitchev và trao cho ông bức thư tín giả mạo kia. Khi 2 người đi đến Đại lộ số 3, khu trung tâm Manhattan, mẻ lưới được kéo lên, cả Coplon và Gubitchev đều bị bắt. Toàn bộ các giấy tờ, điện tín mật của Gubitchev đều bị tịch thu.
Phiên tòa xét xử được mở ra vào năm 1950, Coplon một mực không nhận mình là điệp viên cho Liên Xô và phủ nhận việc gặp gỡ với Gubitchev là vì Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP gián điệp. Coplon khai trước tòa rằng, bà gặp Gubitchev tại một cuộc triển lãm ở Viện Bảo tàng Link OK9.COM Trang Chủ Chính Thức 2026 đương đại (MOMA) ở New York và đã "phải lòng" ông ấy nhưng sau đó hai người chia tay vì Gubitchev đã có vợ con.
Tuy nhiên, Coplon vẫn bị tòa tuyên buộc tội làm gián điệp. Bà tiếp tục chống án. Gubitchev cũng bị buộc tội làm gián điệp và bị trục xuất về Liên Xô ngay lập tức. Năm 1952, một phiên tòa khác được mở để xem xét đơn kháng án của Coplon và được tòa tuyên xét xử lại. Coplon phải nộp tiền thế chân để được tại ngoại. 15 năm sau, năm 1967, Bộ Tư pháp Mỹ đã chính thức rút lại lệnh truy tố Coplon, với lý do những nỗ lực thu thập chứng cứ buộc tội bà của FBI đã không thành.
Trong quá trình hầu tòa và chống án, Coplon đã yêu vị luật sư bào chữa cho mình là Albert Socolov - một cựu binh chiến trường Normandy và hai người đã cưới nhau trước khi Coplon được hủy án. Họ có 4 người con, 3 trai, 1 gái.
Mặc dù không bị buộc tội, nhưng mãi sau này, Coplon vẫn luôn bị ám ảnh bởi nghi án gián điệp năm xưa, và danh hiệu "điệp viên KGB" cũng theo bà cho đến khi chết. Bà là người đầu tiên bị đưa ra xét xử do kết quả hoạt động của dự án phản gián Venona, nhưng rốt cuộc chứng cứ cho thấy Coplon có vẻ không phải là mục tiêu đích thực.
Sau này, FBI thừa nhận đã nghi ngờ và ngầm theo dõi Coplon do có tin mật báo bà làm "gián điệp" cho Liên Xô. Năm 2002, hai tác giả Marcia và Thomas Mitchell đã phát hành quyển sách viết về cuộc đời Coplon xoay quanh vụ kỳ án "gián điệp" của bà, và một lần nữa, những nghi vấn, tranh cãi xung quanh việc Coplon có thật sự là điệp viên KGB hay không vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng