Giấy tờ của người ấy (Phạm Hồng Sơn) đã ố vàng. Người bảo vệ của anh mùa xuân ấy, chú tân binh tên Hợi, mới chỉ 18 tuổi, trước khi ra đi, còn lau nền nhà thật sạch, để lăn ra đất nằm cho mát, đùa nghịch với đứa con nhỏ của "thủ trưởng". Tới thời bình, người lính xưa lại trở về ruộng đồng, không Tết nào quên mang gạo nếp đến tặng Phạm Hồng Sơn. Cho đến Tết Kỷ Sửu và Canh Dần đã không thấy đến nữa…
"Người lính già đầu bạc" không thể "kể mãi chuyện nguyên phong" được. Bởi vậy, tôi nghĩ đã đến lúc mình thử cố ghép những thư từ, nhật ký, phác thảo lại những bức chân dung đang nhòa dần với thời gian. Tôi giữ nguyên những chữ viết tắt theo kiểu thời đó, có thể cả những lỗi chính tả trong giấy tờ của Phạm Hồng Sơn. Những tên tuổi được nhắc đến ở đây, người mất, người còn. Có cả những phóng viên đi Tây Nguyên thời ấy, nay cũng đã thành người thiên cổ như Thép Mới…
Cũng chính vào mùa xuân ấy, tôi nhận được tấm thiếp hồng (các gia đình có người đi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy có lẽ đều được nhận), tấm thiếp chúc Tết của Bác Hồ, mà tôi vẫn còn giữ đến giờ:
"Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến ắt càng thắng to
Vì Độc lập, vì Tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Giấy tờ của Phạm Hồng Sơn còn lại ở thời kỳ đi vào chiến trường hầu hết là sổ ghi chi tiết về diễn biến các trận đánh nhằm tổng kết các chiến dịch. Song đôi lúc lại lạc vào đó vài trang nhật ký hoặc hồi ký bỏ dở - anh vốn là người không hay viết lách, trừ thư từ gửi về nhà. Sau đây là những dòng hiếm hoi và bỏ dở ấy, viết về thời kỳ đi vào Tây Nguyên, bắt đầu là một mệnh lệnh yêu cầu Phạm Hồng Sơn tới gặp đồng chí Văn Tiến Dũng, tháng 12-1967.
"… Đ/c Giáp Tổng tư lệnh đang đi chữa bệnh ở Liên Xô. Đồng chí Dũng gặp tôi không phải ở bộ Ôk9 chương trình khuyến mãi, bộ Tổng tham mưu mà ở Thủ tướng phủ. Đồng chí mặc bộ quần áo tơ tằm trắng kiểu lãnh tụ chứ không mặc quân phục (…) Từ sau Đại hội 2 (1960) đ/c Lê Duẩn được bầu làm tổng bí thư và đến những năm 65 - 66 - 67, Bác mệt nên quyền lãnh đạo đảng thực tế do đ/c Lê Duẩn phụ trách (…) ngay cả ý đồ Tổng công kích Tổng khởi nghĩa Xuân 68 chủ yếu cũng do đ/c Lê Duẩn quyết định (…)
Tôi được giao vào Tây Nguyên làm Fó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Tây Nguyên (thay đ/c Cao Văn Khánh về Bộ) và fổ biến cho Bộ tư lệnh Tây Nguyên giờ nổ súng thống nhất là 12 giờ đêm 30 Tết toàn miền Nam, lấy X,Y, Z (Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế ) làm trọng điểm. Tây Nguyên tấn công và nổi dậy trên cả 3 thị xã Gia Lai, Kon Tum, Ban Mê Thuột và các thị trấn kèm chân sư đoàn 4 của Mỹ.
Tôi nhớ nhất câu đ/c Dũng dặn Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa tiến hành trong 3 tháng xuân Mậu Thân và ta nhất định phải dành thắng lợi, trên cơ sở 2 triệu dân Sài Gòn xuống đường thì không sức nào cản được. Đ/c Dũng rất vui và tin ở thắng lợi.
Tôi đi vào Tây Nguyên bằng đường tàu bay sang Trung Quốc, rồi bay sang Phnom Pênh. Từ đó đi ô tô lên Mimôt, một tỉnh Tây Bắc Kampuchia giáp biên giới Việt
Cuối đoạn hồi ức viết dở dang trên, lại có một câu trở về với mệnh lệnh đi Tây Nguyên. "Tôi được biết ngay ủy viên bộ Ôk9 casino, thể thao, nổ hũ, game bài và bắn cá cũng không phải ai cũng biết ý đồ chiến lược và cuộc công kích, Tổng khởi nghĩa này". Dĩ nhiên, những người trong gia đình, ngay cả vợ, cũng chỉ biết anh lại đi công tác xa. Lá thư đầu tiên ghi "Nam Ninh 12-12-67", kể lại: "Hôm qua lên máy bay rồi nhìn qua cửa kính chẳng rõ gì cả, chẳng hiểu em đã về chưa, cứ ngó hoài, vẫy tay hoài mà chẳng biết em và con có nhìn thấy không (…) Đến Nam Ninh, cả ngày hai tai cứ ù lên vì loa, 2 loa 2 bên, mỗi bên 5, 6 người chứ có phải 1 đâu nói ra rả suốt ngày không nghỉ. Người nói cứ nói, chẳng biết có người nghe không". Đoạn tiếp viết sau đó hai hôm: "Anh ở Quảng Châu thành phố lớn của TQ có trên 3 triệu dân lớn gấp 3 Hà Nội. Dân đông lắm nhà cửa cũng tương đối to. Thành phố TQ không còn vẻ trật tự của mấy năm trước nữa, chuyện đánh nhau bình thường quá (…) Anh mua 1 chiếc bút bi mạ vàng kỷ niệm ngày sinh nhật em anh không quên đâu, 9 chiếc phong bì làm quà cho bạn bè và em Dếnh, súng bắn đạn cao su cho con, 4 chiếc ruột bi cho Ba". (Dếnh là em út của tôi. Còn lúc ấy, ba tôi thiếu cả ruột bi để viết!).
Mấy ngày chờ đợi ở Phnom Pênh, ấn tượng mạnh của anh là được gọi bằng "ông chủ ", bởi từ cách mạng Tháng Tám 1945, trong cuộc sống của người dân miền Bắc, lối gọi ấy đã biến mất. Chắc là vì khi đi chợ mua quà gửi về nhà anh đã mặc bộ đồ ký giả do quân đội ta sắm cho nên được các bà bán hàng khá thạo tiếng Việt chào mời "ông chủ".
Từ tháng 12/1967 đến sau Tết Mậu Thân là thời kỳ thư từ gửi về nhà thưa thớt hẳn và thư được đánh số. Tiếng súng Tổng tiến công và nổi dậy đã liên tục kéo dài trong 3 tháng, không ngừng nghỉ… Tới ngày 4/3/1968, hơn 3 tháng sau khi xa nhà, thư mới chỉ được đánh tới số 7. Lá thư cho thấy anh có lúc đã nhận được thư nhà bằng đường máy bay, nhưng điều trái khoáy là thư vẫn đi với tốc độ rùa bò. Lá thư đề ngày 4/3 mở đầu thật thanh thản, chứng tỏ đợt Tổng công kích đã qua. Phạm Hồng Sơn không phải nhà thơ, nhạc sĩ, nhưng cảnh vật ở đây giống như trong bài hát mà Tường Vi hát thời ấy về Tây Nguyên:
“Anh hai hôm nay nhận được thư của em 2 cái thơ 1 chiếc gửi 16/1 bằng fi cơ qua Ba Danh và 1 cái nhờ anh Fác gửi mồng 3 Tết . Anh đã nhận được cả kẹo lạc chia cho anh em mỗi người 1 miếng ngon quá. Mùi vị Tết đầm ấm của gia đình cộng với thơ và hoa của em và của Ba (tức giáo sư Đặng Thai Mai - chú thích của Đặng Anh Đào), Minh, Quang, (…) Minh ngoan quá, bố đọc thơ chữ đẹp hơn chữ bố rồi, còn Quang viết còn xấu và sai, Quang cố học đi, đừng lười học và Quang của bố vẫn phải giục mẹ Đào uống thuốc cho bố nhé (…) Ảnh rất đẹp, nhìn mắt Đào lại nhớ đến đôi mắt thỏ của Quân quá (…) Chỗ anh ở mấy tháng nay trời xanh trong vắt ánh nắng xen qua lá cây đẹp ấm vô cùng.
Chung quanh anh toàn rừng cây. Chỗ anh có cả nước bắc từ ngọn suối về trong vắt chảy suốt ngày như vòi nước máy.
Sáng nào tiếng vượn cũng hót cao vút hơn tiếng chim vang cả rừng. Hươu nai và cả voi nhỏ luẩn quẩn quanh nhà. Sáng nay anh ra sân gặp một con chim nhỏ như chim khuyên béo tròn hiền lành nhảy nhỏ nhẹ trước mặt một cách hiền lành trông giống như Quang (…) Trông những con gà con chạy quanh gà mẹ tìm ăn lại nhớ tụi trẻ ở nhà.
Anh Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 nhiều cả ngày, đêm nhưng vẫn khỏe có đôi ngày bụng hơi khó chịu, uống mật ong nghệ lại đỡ hẳn. Anh vẫn béo nhưng không đỏ như khi ở nhà vì toàn ở trong rừng.
Em gửi lời cám ơn Ba và lá thư trong sáng tình cảm của Ba và thăm sức khỏe của Ba, Mẹ, các anh chị, các cháu và các người quen biết như ông Tạc, chị Ngọc, Thanh Lan v.v... (những bạn giáo viên thân thiết cùng trường với vợ - chú thích của Đặng Anh Đào). Anh bận nhưng vẫn nghe đài liên tục, thấy Ba, anh Vinh nói chuyện trên đài, mong nghe thấy tiếng nói của em trên đài quá.
(…) Bây giờ vào chỗ anh ô tô đã chạy suốt từ Bắc tới, em có thể gửi hòm thơ fi cơ cũng được hoặc gửi Hòm thơ sau chỉ 1 tháng là tới: Anh Hồng - Hòm thơ 44 100 B S”.
Hồi đó, gửi thư "chỉ 1 tháng là tới" đã là… lý tưởng rồi ! Tháng Ba của Tây Nguyên lúc ấy được giọng hát của Tường Vi miêu tả với những thanh âm ríu rít, hình ảnh những con công đang múa. Tháng Ba năm 1968 cũng là một thời gian thanh bình đối với Phạm Hồng Sơn, nên anh có thì giờ nói tới những cơn đau dạ dày và viết liền hai lá thư. Ngày 12/3/1968: "Anh được thư nhà là mừng nhất, xem đi xem lại mãi, anh mới gửi cho em cả ảnh và 1 cái đuôi công do đ/c công vụ ở đây mang ra có khi đến sau cả thư này (…) Thư Đào anh nhận đủ cả rồi kể cả thư gửi Hợi và thư Tết thư qua Campuchia (…) Thép Mới vào đây gầy đi chỉ còn 1/2 người … Đào ạ chiến đấu còn gian khổ nhưng cũng không còn lâu lắm nữa đâu nhiều lắm vài năm nữa thôi Mỹ yếu lắm rồi. Fi cơ trong này không nhiều bằng ngoài Bắc đâu. Đi sơ tán nhớ rủ người đi cùng, Đào đi xa anh lo tàu bay lắm. Xe của em vài tháng lau dầu 1 lần. Anh chẳng ở nhà lau cho em, chịu khó bảo Quang lau cho mẹ thay bố nhá (…) Em chắc đang ngồi bên bàn đọc sách, thằng Quang đang nghịch ở ghế đá con với các đồ chơi nhặt nhạnh ngoài đường".
… Tôi đã nhận được cả một chùm đuôi công và giữ nó cho đến ngày hòa bình - không đến sớm như anh tưởng lúc bấy giờ. Vì sau lời kêu gọi thương lượng và ngừng ném bom từng phần vào ngày 31/3/1968 của Johnson, thì với sự nhậm chức của Nixon, ông ta đã đưa ra một kế hoạch mới vào đúng một năm sau (tháng 3/1969), đó là Việt
Phạm Hồng Sơn viết: "Thế là không biết Tết thứ mấy rồi anh không ở bên em và các con. Còn Mỹ thì chắc chưa được về ăn Tết với gia đình (…) Tụi Mỹ dạo này mất tinh thần lắm rồi, gặp ta là chạy chỉ còn mạnh về bom đạn thôi. Trong này ngày trôi qua nhanh lắm ngoảnh đi ngoảnh lại đã 1 năm rồi. Chủ nhật là ngày nào cũng chẳng biết".
Mãi tới tháng tận cùng của năm 1968 ấy, các lá thư mới nói tới những cơn sốt rét rừng - căn bệnh quen thuộc của Phạm Hồng Sơn từ nửa đời chiến trận thứ nhất, cuộc chiến tranh chống Pháp: "Hai hôm nay anh ốm, lại sốt rét, đây mới là lần thứ hai mà đã mệt không chịu được. Dậy đi lảo đảo chỉ chực ngã, chỉ mấy hôm thôi lại khỏe như thường ". Điều đặc biệt là thông thường thanh niên lại dễ bị sốt rét đánh gục hơn là người lớn tuổi. So với chú công vụ 18 tuổi đời, anh viết: "Hợi nó sốt rét liên tục từ khi vào chỉ còn bằng 1/2 người ngoài đó… Anh sốt lại không ngủ được cả đêm chong cả mắt vì uống kí-nin vào mất ngủ. Dạo này Hà Nội chắc vui lắm nhưng cũng phải đề phòng nó ném bom trở lại đấy. Anh gửi cho Đào 1 củ hồng sâm đồng chí Triều Tiên cho anh (…) Khi ốm, anh lại lo cho Đào, chẳng may ốm thì ai chăm sóc cho"…
Đó là Tháng Ba Tây Nguyên… Còn tháng 5 năm 1969, khi Phạm Hồng Sơn trở lại Tây Nguyên để đánh trận Đắc Tô II , đã là một mùa hè khốc liệt.
(Trích bản thảo Nửa đời chiến trận (Phần II) - Chân dung và Hồi ức)