Ông vẫn được nhiều thế hệ học trò, giờ đầu đã hai thứ tóc, gọi trìu mến bằng tên gọi “thầy” kính trọng. Ông là Phạm Văn Thanh, một người lính đặc công trải qua gần một thập niên trong quân ngũ với những trận đánh ác liệt. Chiến tranh kết thúc, ông là một người lính may mắn vì trở về lại tiếp tục được gọi đi học hàm thụ đại học và được về công tác tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, được phân công vào vị trí tổ chức khoa văn, trong tay quản lý, phân công công tác cho hàng nghìn sinh viên văn khoa mỗi năm. Ở đó, từng có một thế hệ học trò của ông đã là những người có tiếng tăm và địa vị trong Ok9 cab trò chơi casino phổ biến như: Châu La Việt, Nguyễn Đức Quang, Lê Huy Hòa, Bùi Mạnh Nhị, Trần Hòa Bình, Bùi Quang Thanh, Thế Dũng, Lã Thị Bắc Lý…
Thời ấy, được làm ở vị trí tổ chức như thầy Phạm Văn Thanh là niềm mơ ước của nhiều người. Giá mà ông là một người biết nắm bắt cơ hội, thì có lẽ giờ này, ông đã là một người có tiền, có chức, có quyền trong Ok9 cab trò chơi casino phổ biến. Nhưng khổ nỗi, ông quá liêm khiết, thật thà, lại có trái tim quá đa cảm, dễ mủi lòng bởi nặng nợ với văn chương, luôn nhún nhường trước những học trò văn thơ lãng mạn, có lúc chính ông lại chịu thiệt vì có sinh viên nghèo đến mượn tạm lương thầy rồi một đi không trở lại, nhiều bạn bè thời khốn khó tìm đến ông như một chỗ nương thân trong căn nhà tập thể nhỏ hẹp của Trường Sư phạm…
Nhà thơ Châu La Việt, học trò của thầy trải lòng: “Sau mấy chục năm lạc tin thầy, tôi nhờ bè bạn khắp nơi hỏi han để tìm lại thầy, nói thật lúc nào tôi cũng ân hận vì sao lại xui thầy đi vào con đường thi ca cho đời thầy sau này khổ quá!
Nhà thơ Châu La Việt kể lại: Những năm sau 75, lớp sinh viên chúng tôi từ mặt trận về học đã có thơ văn in rải rác ở các báo. Một hôm tôi đang đi trên sân trường thì thầy Thanh gọi với theo hỏi: “Lúc nào qua mình có tý việc nhé. Thú thật tôi ngại quá. Là sinh viên mà bỗng ông thầy tổ chức gọi lên gặp là cảm thấy có gì phiền hà rồi. Thế rồi cắn răng lên. Ai dè thầy pha trà, bóc thuốc mời, và trình bày tình yêu thi ca của mình, làm tôi choáng váng. Cứ qua những tâm sự của thầy, thì quả là ít có người đắm say thi ca như thế. Ít ngày sau, đến tòa soạn tôi bèn đưa thầy ra Báo Nhân Dân, gặp nhà báo Trung Đông làm biên tập ở báo. Thế rồi bài thơ Đi tự màu xanh: “OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao say sưa trong khúc hát hòa bình/ Vụ gặt đầu xuân mẩy hồng bếp lửa/ Đâu dễ quên những ngày ngụy trang chống Mỹ/ Làng kháng chiến rồi đứng dậy tự màu xanh” được in báo, khiến thầy hạnh phúc vô biên. Sau đó tôi giới thiệu thầy với các nhà thơ nổi tiếng lúc bấy giờ như Phạm Tiến Duật. Anh Duật khen tư cách thầy lắm: “Thằng này nó tốt em ạ. Giá cứ làm tổ chức khéo giàu có chú ạ, thế mà rồi đâm sầm vào thơ ca thế này”. Và bởi thế sau này anh Duật rất thân với thầy, và thường đem thơ của thầy về báo Văn nghệ giới thiệu với độc giả”…
Cũng vì yêu thơ nên thầy quyết tâm thôi làm công tác tổ chức, thôi việc ở Trường Đại học Sư phạm để về quê ở Thái Thụy, Thái Bình, tìm kiếm sự thanh tịnh để được sống trọn vẹn với thơ ca. Gia cảnh khó khăn, vợ làm nông, buôn bán lặt vặt, ba con thơ dại học hành nheo nhóc, nên thầy Thanh kiêm thêm nghề vẽ truyền thần ở phố chợ để kiếm sống. Một hôm phòng thuế của huyện biết tin đến kiểm tra đưa thầy vào diện OK9 thể thao xanh chín phải nộp thuế, thầy Thanh không biết nói gì bèn đưa tờ báo có in bài thơ của thầy ra khoe với cán bộ thuế và được miễn. Nhưng số của thầy lận đận, Ok9 cool link đăng nhập cửa hàng cửa hiệu đẹp đẽ được chục hôm thì cái chợ cóc ở làng quê ấy bị giải tán. Thầy đóng cửa hàng vì không có khách, cuộc sống cứ bươn bả theo những vòng trượt dài nghèo khổ, lận đận. Thơ ca như món nợ đời cứ đeo bám thầy cho đến ngày hôm nay. Biết gia cảnh của thầy vẫn nghèo mà thầy thì vẫn yêu thơ như thuở trước, tôi cảm thấy có lỗi và ân hận lắm. Vì tôi, vì nhiều nhà thơ là bạn bè tôi mà thầy vướng vào nghiệp thơ ca và cuộc đời thầy bỗng chốc đổi sang một hướng đi khác. Đôi khi tôi cảm thấy mình có tội với thầy, với gia đình thầy, chứ nếu tôi không xui thầy làm thơ để thầy yên phận với vị trí của một người làm công tác tổ chức thì có lẽ gia đình thầy đã có một tương lai sáng lạng hơn bây giờ…”.
Nghe người học trò phân bua, thầy Phạm Văn Thanh không nói gì, nước mắt cứ chực trào ra khỏi đôi mắt đã hằn những vết chân chim tuổi tác. Thầy bảo, lỗi chẳng phải tại ai, chỉ tại số thầy lận đận. Rời khỏi phố thị ồn ào của thủ đô, thầy oằn mình theo vết trượt dài của cuộc sống đói khổ nơi làng quê heo hút. Nuôi mộng làm giàu để nuôi vợ nuôi con bằng nghề vẽ truyền thần, nhiếp ảnh… nhưng ba lần bảy lượt đều thất bại, đồng lương về nghỉ hưu theo chế độ 136 cũng theo gió cuốn đi. Hóa ra cuộc đời không đẹp như những trang tiểu thuyết, hóa ra những câu thơ tả cảnh làng quê chỉ đẹp trên trang giấy chứ không thể giúp thầy thoát khỏi số mệnh đã an bài. Đã từng là một người có quyền biến đối với cả nghìn sinh mệnh con người khi làm công tác tổ chức, vậy mà rồi ở cái làng quê heo hút ấy, thầy cứ lận đận mãi. Căn bệnh đau dạ dày hoành hành suốt tháng tháng, năm năm, thầy đau đớn cả thể xác lẫn tâm hồn. Đau nỗi đau của một người nhiều khát vọng mà bị bó chân, bó tay bởi không thể cựa quậy bứt ra khỏi cái lạc hậu, cái bon chen của những con người hẹp hòi để có thể tìm cho mình một con đường sáng. Những vần thơ khi đó trở thành cứu cánh, thầy viết: “Nơi cái nắng bết vào da đỏ lịm/ Vệt bùn khô thay giọt mồ hôi/ Gương mặt người thay gương mặt biển khơi/ Niềm khao khát đẩy về phía trước…”.
Nhà thơ, nhà báo Nguyễn Đức Quang, Phó Tổng biên tập Báo Thiếu niên tiền phong, học trò của thầy đã chia sẻ: “Ngôi nhà tranh đầu hồi mà thầy Thanh vừa Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 vừa ở, vừa sáng tác theo tiêu chuẩn của cán bộ nhà trường dù chật chội nhưng lúc nào cũng đông khách. Tôi biết người ra kẻ vào có rất nhiều lý do, mà hồi ấy thầy còn “tranh thủ” làm thêm bằng nghề vẽ truyền thần nữa chứ. Việc gì cũng khẩn trương, cũng hối thúc, thế mà chưa bao giờ tôi thấy thầy phàn nàn, chỉ một câu quen thuộc: “Phải làm thế mới đủ sống…”. Biết vậy mà thầy vẫn lao như thiêu thân vào những câu thơ, con chữ. Tôi chưa có dịp hỏi thầy cơn cớ, lý do gì thầy đã đến với thơ ca như bị “bỏ bùa mê” như vậy. Chỉ biết gặp thầy lần nào, tôi cũng như một người lại bị “cuốn hút” vào những cảm xúc, tâm trạng như bị “thôi miên” với thơ ca của thầy. Nó như khơi, như thổi để có lúc sẽ bùng lên những ngọn lửa cảm xúc, sáng tạo. Có lần, chưa kịp qua cửa bước vào nhà đã nhìn thấy thầy đang đánh vật với trang bản thảo. Rồi như gặp người tri kỷ, thầy khoe ngay: “Mày thấy câu này thầy viết về đồng bằng được chưa?”. Thầy đọc vang: “Tiếng gì như nụ nứt nanh/ Ô hay mùa cải viết thành không gian/ Giữa vùng dây rợ bò lan/ Ổ khoai ba tháng chừng đang vo tròn…/ Dâu xanh xanh đến mỡ màng/ Một con kén thả ra ngàn vòng quay…” (Tiếng gọi giêng hai).
Chị Phạm Thúy, con gái của thầy Phạm Văn Thanh, một giáo viên âm nhạc, khi nói chuyện về cha mình đã trầm ngâm: “Tôi cũng quen biết nhiều nhà văn, nhà thơ, nhiều nghệ sĩ nhưng tôi chưa thấy ai “vật vã” với thơ ca như bố tôi. Ông là người yêu vợ thương con, luôn nỗ lực để chu toàn với gia đình nhưng có lúc “lực bất tòng tâm”, ông phải đối chọi với bệnh tật, với những bấp bênh nghề nghiệp, những thay đổi, chuyển dịch. Cả tuổi thơ của chúng tôi thiếu thốn, nghèo khổ về vật chất, nhưng có lẽ điều may mắn nhất là chúng tôi có bố mẹ luôn yêu thương. Bố tôi lạ lắm, dù nghèo, dù đói, nhưng chẳng bao giờ chịu nhờ vả ai. Ông âm thầm Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9, sáng tác, có những đêm ông bắt đom đóm cho vào lọ và ra vườn chuối làm thơ và ngủ luôn ở đó. Có một cái “hộp gia bảo” chỉ chuyên đựng bản thảo và những bài thơ in báo mà cha tôi luôn giữ lấy như vật bất ly thân, có thời điểm gặp mùa giông bão nhà xiêu vẹo, đổ nát, ông không lo chằng chống nhà, chỉ lo cái hộp ấy thất lạc. Mẹ tôi biết ông đam mê nên chịu hết mọi tật xấu, mọi thăng trầm của bố mà không một lời nào kêu ca, phàn nàn. Bà xốc vác việc nhà, làm ruộng, buôn bán, vun vén nuôi ba con ăn học. Trong tận thâm tâm, mẹ tôi yêu và trọng cha tôi, những bài thơ của ông dù với người đời thì vô nghĩa nhưng nó đã nuôi dưỡng tình yêu thương của gia đình tôi. Cả tuổi thơ của ba chị em tôi lớn lên qua lời hát ru của mẹ. Bà không mượn ca dao, tục ngữ như thường lệ mà hát ru chúng tôi bằng thơ của cha tôi, những bài thơ mà đến nay chị em tôi vẫn thuộc nằm lòng: “Làm đồng chẳng cứ gần xa/ Buổi trưa nào cũng có quà cho con/ Con cua mẹ chích hai càng/ Lấy dây mẹ buộc cho Giang đi cày/ Mẹ ôm bó mạ vơi đầy/ Nhởn nhơ con hát suốt ngày nghé ơi!/ Tròn vo là mớ ốc nhồi/ Thịt ngon là lũ ếch ngồi bãi sông/ Bát canh nổi gạch cua đồng/ Con ăn ngọt miệng mà lòng mẹ vui/ Rau dền mọc ở khắp nơi/ Bữa cơm có vị đồng ngoài đồng trong…”(Ngây thơ).
Thầy Phạm Văn Thanh đã từng là một người bạn thân thiết của nhà thơ Phạm Tiến Duật, Bế Kiến Quốc, Trần Hòa Bình… trong những năm tháng ông Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Họ là “bộ tứ” thường ngồi lai rai chén rượu, hút điếu thuốc lào ở vỉa hè Hà Nội những tháng năm đói khổ. Nhìn lại, ba người bạn ấy đã ra đi về cõi vĩnh hằng, còn lại ông, sau bao nhiêu chìm nổi, vẫn nghèo, vẫn khổ, chỉ có một niềm đam mê thơ ca luôn như ngọn lửa cháy âm ỉ từ thời tuổi trẻ đến bây giờ chưa bao giờ lụi tàn. Ông xúc động bảo cảm ơn đất trời đã giúp ông có cơ hội gặp lại các học trò của mình, để lần đầu tiên trong đời ông được đến ngày Thơ Việt Nam, lần đầu tiên trong đời ông được cầm trên tay tập thơ xuất bản gồm 17 bài thơ nhỏ nhoi mà cả đời ông đã viết. Ông bảo: Đối với ông, được in tập thơ Biển có về với giấc ngủ con không? là điều hạnh phúc nhất cuộc đời. Bởi cho đến trước khi tập thơ được xuất bản, ông vẫn dặn con rằng, khi nào bố chết, hãy làm cách nào đó in những bài thơ của bố dán lên mộ, may ra có ai đó vô tình đi qua đọc được là bố mãn nguyện lắm rồi. Kể xong câu chuyện, thầy Phạm Văn Thanh lại mân mê tập thơ ngẫm ngợi một điều gì đó, bỗng thấy trên trán ông lăm tăm giọt mồ hôi phố thị. Tôi nghĩ về chặng đường chuẩn bị xuôi xe đò trở về với làng quê của ông và nghĩ, xét cho cùng, nghiệp văn chương cũng là thứ giời đày và ông, là một số phận bị đày ải: “Chân biển thì gần con sóng thì xa/ Chân trời cong như nét vẽ ngây thơ/ Chiều nước nổi buồm đi qua tầm mắt/ Mồ hôi nhỏ từ ngày gieo hạt/ Đã giấc mơ nào đi hết biển đâu!”…