Trên chiếc bàn thờ “bị phân biệt đối xử” nụ cười của người đàn bà Mường bất hạnh u uất trên tấm ảnh thờ.
Gái đẹp xứ Mường…
Bàn thờ bây giờ của Thủy là ở một căn chòi vắng lạnh lợp bằng rạ mục và tứ bề đều rách rưới. Trên bàn thờ cái gì cũng ướt, từ bát hương đến cái bật lửa đều nguội lạnh, mờ mịt… Chỉ còn một tấm ảnh thờ lưu giữ hình ảnh về người con gái Mường đó sáng lên với vầng trán cao, da trắng, mắt long lanh và một cái nhếch môi rất buồn.
Bé Bùi Minh Tuấn (9 tuổi, con trai chị Thủy, cháu cũng đang có H ở giai đoạn cuối) bảo với chúng tôi rằng; mẹ cháu được về ở nhà bác (ý là ở xó vườn này) là một may mắn, ngày xưa mẹ còn ở cái chòi xa tít ngoài suối.
Chị Thủy là người phụ nữ đầu tiên ở xã Dũng Phong, huyện Cao Phong chết vì AIDS. Để tìm hiểu ngọn ngành câu chuyện dẫn đến cái kết thúc bi ai của chị, chúng tôi đã quyết định tìm về nơi chị sinh ra.
Thuyết phục Tuấn, cậu bé là con trai chị, chúng tôi được cậu đưa về quê ngoại ở xã Bắc Phong. Qua 1 con suối, với 10km đường đất sét trơn nhầy nhụa chúng tôi vẫn chưa thấy đến bản. Hỏi thằng bé con chị, nó cứ ngặt ngẽo cười “quê ngoại cháu gần lắm”, “Còn gần lắm cô cứ đi đi”… Cuối cùng phải lội qua 1 con suối đục, một đoạn đường đất sét ngập bánh xe chúng tôi mới tới nơi.
Khi đến cái nơi xa xôi ấy, tôi phải thốt lên rằng: Một nơi xa lạ, heo hút sinh ra 1 người con gái đẹp. Rồi trong cuộc giao lưu với những người hiện đại ngoài kia cuộc đời chị biến thành sầu thảm đến thế.
Hỏi chuyện về chị Thủy người ta nhìn chúng tôi bằng con mắt ái ngại. Thủy đã chết rồi, chết vì cái ai cũng sợ đó là “siđa”.
Chị cả của chị Thủy là chị Bùi Thị Thân năm nay đã 44 tuổi, trong gian nhà sàn của người Mường chị Thân bùi ngùi kể về em mình: “Nếu còn sống năm nay em nó cũng được 36 tuổi. Hồi trẻ Thủy nó là đứa “được sắc” nhất nhà. Thủy cũng được đi học đến lớp 5”.
Chị lui lên nhà tìm trong đống ảnh kỉ niệm của gia đình vài ba tấm ảnh ố màu nước vối và chỉ ra đâu là Thủy em mình. Trong bức ảnh thứ nhất, chị Thủy là một cô gái xinh đẹp, vấn tóc tết gọn hai bên. Trong bức ảnh thứ hai chị Thủy trang điểm nhẹ, mặc bộ quần áo sơ vin kiểu cổ xưa. Trong một bức ảnh khác là chụp lần Thủy được ra Hà Nội chơi ở công viên bách thảo. Bức ảnh nào chị Thủy cũng hiện ra đẹp đẽ và tươi tắn.
Mẹ của chị Thủy năm nay đã hơn 60 tuổi. Hằng ngày bà vẫn mang cơm nắm, lùa 2 con trâu mộng vào lũng để đi chăn. Hôm nay có khách là chúng tôi đến, người con rể phải đi mất hơn 2 tiếng để gọi mẹ về. Hỏi khách ở đâu tới, vừa giới thiệu xong bà đã tất tả kể đủ thứ chuyện.
“Con gái của tôi là một đứa bạc mệnh. Hồi trẻ nó là một đứa xinh xắn và hay hát. Đi công tác thanh niên trong xã, bài hát nào nó cũng thuộc. Nó hát đôi bằng tiếng Mường cũng rất giỏi”.
Hỏi về những người đã đeo đuổi Thủy trong những tháng ngày xuân sắc bà nhớ khó nhọc: “Có nhiều người lắm! Có người ở xã này, có người ở xã khác, có người ở tận Hà Nội. Nhiều thanh niên vì đeo đuổi Thủy mà đến tận nhà tôi ăn nằm, chờ nó siêu lòng, làm lụng giúp nhà tôi để nó vừa ý”. Thế nhưng không vì thế mà Thủy có một đám cưới mỹ mãn. Năm chị 22 tuổi, có một người Ok986 vip Thiên đường trò chơi ở xã khác rủ rỉ, vì yêu quá mà lại bị gia đình phản đối, Thủy theo về ở không…
Người vợ mệnh bạc chỉ xin chiếc chăn nhung trước khi chết
Thủy theo về nhà chồng với 2 chiếc chăn nhung, không bạc vàng và không đám cưới như tục lệ truyền thống của người Mường. Mười năm sau lấy chồng, cuộc đời chị bao nhiêu chìm nổi.
Thủy là cô gái xinh nên quanh chị luôn có những lời đàm tiếu. Người bên nội thì bảo vì chị ấy xinh đẹp nên có nhiều người yêu và quan hệ bừa bãi nên đã lây AIDS. Người bên ngoại bảo vì chồng chị đi làm ăn ở xa, anh quan hệ với gái mại dâm nên mang AIDS về cho vợ. Lý do từ ai thì chẳng biết rõ nhưng là đàn bà, Thủy hay ốm hơn với các triệu chứng như tiêu chảy, ho lao, người tróc lở… Chị phát bệnh trước nên nghiễm nhiên những người làng xóm, ngay cả chồng chị cũng quy kết chị có quan hệ bên ngoài nên đã lây bệnh về cho chồng.
Người em chồng của chị Thủy kể lại: Những ngày cuối đời chị ấy không được yên ổn thì lấy đâu có hạnh phúc. Đầu tiên là những trận đòn roi của chồng. Đôi khi tôi thấy quần áo xanh đỏ của chị vứt ra khỏi nhà, chị nằm ở cổng. Chịu những trận đòn roi của chồng nhưng chị không có can đảm rời nhà, bởi lúc ấy chị không có nơi nào mà đi cả. Cả anh và chị ấy đều giấu bệnh thế nên sau khi mắc bệnh chỉ một thời gian ngắn là chết…
Những ngày cuối cùng ở trên giường bệnh Thủy không nói gì. Trên khuôn mặt nhiều vết tróc lở thỉnh thoảng nước mắt lại trào ra và người mẹ đẻ ra chị lại đeo găng tay và cầm khăn mặt lau đi. Mẹ của chị Thủy nhớ lại. “Khi ấy tôi hỏi con gái ăn gì, uống gì? Nhưng nó không nói. Nó chết sau một cơn nấc dài… Nó là đứa con khi chết không nhắm nổi mắt của tôi”.
Chị gái của Thủy là Bùi Thị Thân thì nhớ một điều khác về em mình trước khi chết: Trước khi chết em tôi không trăn trở điều gì cả. Nó chỉ xin tôi cái chăn nhung để mang đi… Tôi không hiểu tại sao em lại xin chăn nhung, có lẽ trên trần em rét mướt và lạnh lẽo quá!
Hình ảnh của gái Mường bạc mệnh thấy trong dáng dấp của con trẻ 9 tuổi
Bà ngoại của Tuấn hướng dẫn chúng tôi hình dung về chị Thủy bằng cách nhìn em Tuấn. Bà bảo, Tuấn hiện tại có cái lém lỉnh của mẹ, cái trán cao của mẹ, sự thông minh và khôn ngoan bây giờ cũng lấy của mẹ. Và cay đắng hơn virus HIV cũng là từ mẹ.
Ngày mẹ mất Tuấn mới 4 tuổi. Kí ức của cậu về mẹ rất mờ nhạt. Hỏi về mẹ Tuấn chỉ biết chỉ lên tấm ảnh thờ, đó là tất cả về mẹ trong cậu bé. Mẹ mất được khoảng 3 năm thì bố cũng mất. Ngày đó Tuấn sống trong mái nhà ranh ở ven suối và chịu sự kì thị của tất cả mọi người. Trẻ con không chơi với Tuấn, người lớn không đến giúp Tuấn. Thế là trong nắng mưa, cậu sống cô độc ở một căn chòi rách rưới…
Người ta bảo rằng 3 năm trước khi cộng đồng coi AIDS là một thứ kinh khủng, Tuấn chẳng có ai nương nhờ. Hằng ngày Tuấn đi bộ ra chợ gần đó xin tiền để mua mì tôm ăn. Người quen biết Tuấn thì tránh xa. Người không biết rằng cậu có H, thấy thương thì cũng bố thí cho vài đồng. Mãi khi có OK9 thể thao xanh chín phát hiện thì Tuấn được giúp đỡ đưa lên trung tâm và lo ăn ở… Thế nhưng sau đó bác em lại đón em về nhà để ở gần bàn thờ của cha mẹ. Tuấn lại tiếp tục sống cuộc đời đói thiếu, đắng cay.
Bố mẹ mất, Tuấn phải bươn chải từ năm lên 6. Cuộc đời dạy một đứa trẻ con 9 tuổi như Tuấn nhiều điều mà khi cậu tâm sự nghe rất xót xa. “Theo cô một người lạ cho kẹo, họ bảo ngồi lên xe máy để đi chơi thì có phải là người tốt không?”. Tuấn hỏi xong tôi vừa cười ngượng thì cậu đã tự trả lời: “Theo cháu thì họ sẽ chẳng cho không ai cái gì, họ Link Đăng Ký & Đăng Nhập Trang Chủ OK9 trẻ em đấy”. “Cháu chỉ là một đứa trẻ 9 tuổi nhưng với cháu thì cái gì cũng nhỏ. Cô cho cháu 1 thùng mì tôm cháu lại muốn có thêm 2 thùng khác nữa. Cô cho cháu cái ôtô (đồ chơi) cháu lại muốn cô cho cháu một núi ôtô”.
Tuấn bây giờ không đi học. Tuấn tâm sự: “Cháu không đi học nữa vì bạn nó đánh cháu. Chúng nó bảo cháu là thằng siđa.... Cháu tức và uất lắm nên cháu lấy 1 hòn đá to ném vào chúng nó rồi cháu chạy thẳng về nhà”.
Biết bệnh của mình nhưng mỗi ngày thức dậy là một ngày Tuấn biết mình vẫn còn sống. Cô giáo ở Trung tâm dặn Tuấn rằng: “Không được lấy máu bôi vào bạn. Khi bị chảy máu thì không chơi nữa…”. Tuấn nhớ rõ và hồn nhiên kể cách để AIDS không lây cho các bạn. Tuấn hay lủi thủi chơi một mình nhưng nếu có người chơi cùng và hiểu rằng AIDS không dễ lây đến vậy thì cậu có thể ôm chặt ai đó để bày tỏ sự thiếu thốn thương mến của mọi người.
Người thân và thương Tuấn nhất bây giờ là bà ngoại. Thế nhưng với những người Mường ở thôn bản xa xôi này AIDS là cái gì quá kinh khủng. Tuấn sang nhà ngoại được uống nước bằng 1 cái chén riêng, khi Tuấn uống xong bà ngoại đặt chén nước vào một vòng tròn màu đỏ (như vòng tròn kim cô có phép thuật) để bệnh của Tuấn không lây cho ai nữa.
Thỉnh thoảng khi Tuấn bị bỏ đói Tuấn hay mò đến nhà ngoại. Nhà ngoại không giàu, ăn cơm chỉ có canh rau cải… Cơm chan canh rau cải Tuấn nuốt không nổi. Tuấn luôn miệng: “Cải nhà ngoại đắng lắm! Đắng lắm”. Tuấn cũng chê rau cải như mẹ…