Mười năm chưa một lần gặp con
Không phải vì những đứa con của Hùng bất hiếu, cũng không phải vì dặm dài thiên lý từ Nam ra Bắc, lại càng không phải vì hoàn cảnh OK9 cung cấp hơn 1.000 trận đấu mỗi ngày từ các giải đấu lớn như World Cup, Premier League, La Liga, Champions League,.. với tỷ lệ kèo cược vô cùng cao gia đình quá khó khăn để những người con của Hùng không thể thu xếp một lần ra thăm bố trong từng ấy thời gian. Mà bởi vì… “Tôi không muốn các con nhìn thấy mình trong bộ quần áo kẻ sọc này. Chúng sẽ đau lòng nhiều lắm”.
- Dù có tránh không muốn nhắc tới, hay không muốn ai nhìn thấy mình trong bộ dạng ấy thì cũng không thể chối bỏ sự thật đúng không?
- Nhưng sự thật qua hình dung bao giờ cũng nhẹ nhàng và giảm đau đớn hơn sự thật được nhìn thấy.
- Đồng ý là như vậy nhưng nếu các con anh vẫn quyết tâm ra gặp bố thì dù anh có cấm cũng không được.
- Với những gia đình khác tôi không biết, nhưng ở gia đình tôi khi ba ra quyết định là các con phải nhất nhất nghe lời. Sự nghiêm ngặt ấy có thể cũng một phần vì chúng tôi thuộc dòng dõi hoàng phái.
- Còn lý do nào khác trong việc đã gần mười năm rồi kể từ khi anh chuyển ra Trại giam Vĩnh Quang mà chưa từng một lần gặp người thân không?
- Tôi ngược đời lắm. Nếu như với hầu hết các anh em phạm nhân khác việc thăm gặp của người thân như những liều thuốc tinh thần giúp họ phấn chấn hơn trong cải tạo thì với tôi đó lại là cú sốc.
- Nghe có vẻ phi lý quá nhỉ?
- Nhưng đó là sự thật thưa cán bộ. Tôi sốc bởi sau giây phút trùng phùng quá ngắn ngủi ấy, tôi lại phải trở về với nỗi đau của mình. Thế nên thà cứ âm thầm chịu đau còn hơn được một phút giây hạnh phúc rồi lại đau đớn gấp bội phần. Thú thật với cán bộ là nếu tôi gặp người thân tôi sẽ không thể yên tâm cải tạo được.
- Nãy giờ chúng ta chỉ nói về con anh. Vậy còn vợ anh. Chị ấy làm nghề gì và đã từng bao giờ đến trại giam thăm chồng chưa?
- Vợ tôi là giáo viên cấp ba, dạy môn toán. Hai năm sau khi tôi bị bắt và giam ở Bắc Ninh vợ tôi có đến thăm tám lần nhưng đến lần thứ tám thì tôi quyết định không ra gặp nữa.
- Lần này chắc chắn không phải vì lý do không muốn vợ nhìn thấy mình trong bộ quần áo kẻ sọc đấy chứ, vì chị ấy đã nhìn thấy rồi.
- Vâng. Vì sốc thì đúng hơn thưa cán bộ.
- Và kể từ lần ấy vợ anh chưa từng một lần nào ra thăm chồng nữa đúng không? Phải chăng chị ấy đã thay lòng đổi dạ hay hai người đã ly hôn.
- Tôi cũng không biết hoàn cảnh của mình lúc này ra sao nữa. Hai năm sau khi tôi vào trại giam, vợ tôi đã làm đơn ly hôn với lý do làm như thế sẽ giúp con cái có một lý lịch trong sạch hơn. Vợ tôi bảo đó chỉ là hình thức, còn giữa chúng tôi mãi mãi vẫn là vợ chồng. Cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu bản chất của vấn đề này nó như thế nào.
- Anh tin vợ anh chứ?
- Vâng, tôi tin vợ tôi vì cô ấy là người hiểu biết và rất mực yêu chồng thương con nên sẽ luôn làm mọi cái tốt nhất cho chồng và con. Nhưng đấy cũng chính là một trong những lý do để vợ tôi không ra thăm tôi, bởi lẽ dù là trên danh nghĩa thì đã li dị rồi nghĩa là không còn liên quan gì đến nhau nữa. Nếu cứ ra thăm sẽ tạo ra mối nghi ngờ cho mọi người.
- Đang là giảng viên của một trường Đại học sao anh lại rẽ ngang sang làm nghề OK9 thể thao xanh chín?
- Thưa cán bộ, có lẽ cũng là do số phận thôi ạ. Hồi đó bạn bè tôi làm OK9 thể thao xanh chín và thành đạt cũng nhiều. Nhiều đứa khuyên tôi nên bỏ nghề “gõ đầu trẻ” để ra ngoài kiếm tiền cho vợ con đỡ khổ.
- Và anh đã nghe theo.
- Vâng. Tôi cũng đắn đo, cân nhắc khá nhiều. Hồi đó hai con tôi còn nhỏ cuộc sống cũng nhiều khó khăn nên tôi đã quyết định chuyển sang một nghề hoàn toàn mới lạ. Tôi và những người bạn của mình đã thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn. Do sai sót về cơ chế nên chúng tôi đã làm thất thoát của công ty đối tác số tiền là năm trăm triệu đồng. Riêng tôi bị kết án hai mươi năm.
Mười lăm nghìn bức thư báo mộ
Không hiểu tự khi nào phạm nhân Tôn Thất Phi Hùng lại nghĩ rằng mình cần làm một điều gì đó có ý nghĩa coi như một sự thành tâm sửa chữa lỗi lầm và cũng coi như một sự tri ân với cuộc đời. Có lẽ đây cũng là phạm nhân đầu tiên và duy nhất trong vòng bốn năm ròng đã miệt mài viết và gửi đi mười lăm nghìn bức thư báo mộ liệt sĩ.
Dù rằng, quy định của trại giam không cho phép một phạm nhân được gửi nhiều thư như vậy, nhưng có lẽ Ban giám thị trại đã xét đến góc độ đạo đức và ý nghĩa của việc những bức thư ấy sẽ được chuyển đến thân nhân những người đã mất nên đã làm một việc ngoại lệ chưa từng có.
Sở dĩ Hùng có ý nghĩ phải làm như vậy là khi nghe trên đài phát thanh và xem trên tivi những mẩu tin tìm mộ liệt sĩ. Hùng nghĩ rằng những mẩu tin ấy chỉ được phát đi có một lần cùng lắm là đến hai ba lần, ai dám chắc những người thân của các liệt sĩ sẽ nghe được để đi tìm. Thế nên Hùng quyết định mình sẽ nghe và ghi lại địa chỉ nơi các liệt sĩ đang an nghỉ rồi gửi đến thân nhân của họ. Đọc được thư sẽ giúp họ có thể tìm thấy thân nhân của mình.
Và trong bốn năm trời ấy, Hùng cứ lặng lẽ ghi chép rồi nhờ cán bộ gửi thư đi. Kết quả là rất nhiều gia đình nhờ vào bức thư báo mộ của Hùng đã tìm ra người thân của mình. Thời gian đầu, địa chỉ nhà riêng của Hùng trong Sài Gòn liên tục nhận được những lá thư cảm ơn của thân nhân các liệt sĩ. Họ cảm ơn vì nhờ được báo kịp thời họ đã tìm được người thân của mình. Thư từ gửi tới nhà quá nhiều đã gây một vài sự xáo trộn trong gia đình nên trong các bức thư gửi đi cho thân nhân liệt sĩ sau này Hùng không dám ghi địa chỉ người gửi nữa.
Dịch truyện và làm thơ
Tôi đã thực sự bất ngờ khi cầm trên tay tập bản thảo dày 1.600 trang mà Hùng dịch lại từ bản dịch tiếng Anh cuốn “Mật mã Devinci”. Hùng nói, đây là món quà mà anh ta muốn để dành tặng con gái lớn. Bởi cái ngày trọng đại nhất của con Hùng đã không thể ở bên để chia sẻ niềm vui cùng con được. Đó là điều đau đớn và day dứt nhất đối với phạm nhân này. Thế nên vì muốn có một món quà ý nghĩa để tặng con trong ngày vui ấy, Hùng đã miệt mài dịch cuốn “Mật mã Devinci” trong suốt ba tháng trời ròng rã. Cuối cùng thì tập bản thảo hoàn chỉnh đã ra đời. Bản viết tay Hùng gửi về cho con gái, Hùng giữ lại cho mình một bản phôtô.
Ngoài dịch “Mật mã Devinci”, phạm nhân này còn rất hứng thú với những truyện của tác giả người
Nhưng thứ có thể gói ghém mọi cung bậc cảm xúc của phạm nhân này không phải là truyện mà lại chính là những trang thơ. Thơ như nhật ký ghi lại tất cả hỉ, nộ, ái, ố của Hùng trong bước sa cơ. Chả thế mà, bài thơ mở đầu trong một tập thơ dày có tên là “Khúc tự tình” Hùng đã viết: “Khai bút tìm thơ giữa sơn hà/ Gạn đục khơi trong – ta tìm ta/ Thương đời, thương mãi nơi ta đến/ Yêu người yêu mãi kiếp phong ba/ Nào mời đôi chữ dăm câu đấy/ Hiểu được lòng ta mới gọi là…”.
Mười năm đã trôi qua kể từ cái ngày đầu tiên Hùng bước chân vào trại giam. Ngày đó, Hùng đã nhiều lần nghĩ đến cái chết vì nghĩ rằng những gì mình đã, đang và sẽ phải trải qua thật quá sức chịu đựng. Nhưng rồi với sự động viên tận tình của các cán bộ Trại giam Vĩnh Quang suy nghĩ của Hùng đã thay đổi. Hùng bảo: “Đến giờ phút này tôi thực sự đã nhìn thấy ánh sáng le lói cuối đường hầm”…