Người ta bảo, sự sung túc, ấm êm không dành cho người đàn bà mang tên xấu. Và, những người sinh vào "năm đói" thì chẳng mấy khi no. Tất cả sự trớ trêu ấy đều vướng vào bà. Cha mẹ đặt cho cái tên Nguyễn Thị Nở, chào đời 1945, nên dường như sự sầu não, bi ai trời đã định phần, sắp sẵn.
Ngôi nhà ma ám
Nhà bà ở một con ngõ nhỏ, lòng vòng trên đường Đà Nẵng, phường Cầu Tre, (TP Hải Phòng). Chẳng cần hỏi nhiều, khách đến thăm cũng dễ tìm ngôi nhà ấy. Cũng nhà xây cấp bốn, cũng đóng cửa im ỉm như nhiều ngôi nhà khác ở xóm lao động nghèo nhưng nhà bà dễ nhận. Thoạt nhìn, đã thấy toát lên ăm ắp những u buồn, trầm uất. Hàng xóm rỉ tai: Ngôi nhà ấy đã quá chật chội những niềm đau khôn cất thành lời.
Cửa nặng nề mở. Thấy người lạ, mấy đứa con của bà đón khách bằng cái nhìn dáo dác, rồi bỗng dưng phé lên cười. Cười xong, chẳng ai bảo ai, họ mỗi người một ngả, tan tác chạy. Thấy mấy đứa con "bỗng dưng dở chứng", bỏ mặc khách bà khấp khểnh ù theo. Túm được đứa này thì đứa kia lại vọt mất. Chạy một vòng, thở chẳng nên hơi, bà vội vàng lao ra đóng cổng. Hổn hển kéo khách vào nhà, bà bảo, bà sợ các con ra đường. Ngoài phố, với người thần kinh không bình thường thì luôn có vô vàn những điều nguy hiểm.
Bà theo chồng năm 1964. Vợ chồng bà đều quê ở Phú Thọ. Bởi gia cảnh khó khăn mà phiêu dạt xuống Hải Phòng, làm công nhân nhà máy xi măng. Bây giờ, nhớ quê lắm nhưng chẳng dám về. Người ta xa quê, khi về dù khó khăn, túng bấn nhưng cũng vẫn nở mày nở mặt với quê hương. Người thoát ly kiểu gì chẳng hơn đứt người ở lại. Thế nhưng, hoàn cảnh của bà thì… Càng nghĩ, nước mắt càng mặn mòi hơn, tiếng thở dài càng như vô tận.
Đến giờ, bà cũng chẳng hiểu tại sao mình lại đẻ nhiều đến vậy. Lấy chồng, cứ đẻ sòn sòn. Đẻ đến người con thứ mười, dân trong xóm cảnh báo: "Bà mà đẻ nữa là thủng ruột đấy!". Nghe vậy, quá hãi, bà mới lần mò ra trạm Ok986.vip bảo mật SSL. Và, ở đó, người ta đã xử lý để "thói quen" ấy mất hẳn. Ngần ấy người con thì đương nhiên, chẳng lấy đâu ra sung túc. Đứa lớn bồng bế đứa bé, nhíu nhít nuôi nhau. Ngẫm cũng lạ, tuy thiếu đói liên miên nhưng những đứa con của bà cứ lớn tròn ung ủng. Đứa nào đứa ấy trắng trẻo, xinh xắn tựa tranh vẽ. Mỗi buổi đi làm về, nhìn bày con lít nhít, gian truân vất vả cũng vơi bớt phần nào.
Tai họa bắt đầu ào ạt ập xuống nhà bà khi người con cả vừa tròn 14 tuổi. Một đêm u tịch, Phạm Thị Thái, tên người con ấy bỗng dưng ôm đầu kêu gào thảm thiết. Sau cơn đau kinh hoàng ấy, Thái đâm ngớ ngẩn. Không phân biệt được người thân, kẻ sơ, cứ tha thẩn huyên thuyên một mình đủ thứ chuyện không đầu không cuối. Và, khốn khổ hơn, nếu không có người để mắt là Thái mở cửa, đi không biết đường về. Thương xót, vợ chồng bà đưa con đi chạy chữa khắp nơi. Thế nhưng, thuốc nào cũng vô hiệu.
Cứ nghĩ nhà chỉ mình Thái vướng vào căn bệnh hiểm nghèo ấy, nào ngờ, người con trai thứ hai của bà cũng "theo chân" chị. Bà Nở kể, tiễn cậu trai thứ hai đi nghĩa vụ quân sự, vợ chồng bà đã có những giây phút mừng đến rơi nước mắt và cả những niềm hi vọng dù rất nhỏ nhoi. "Ờ thì nó có khoẻ khoắn thì người ta mới cho đi bộ đội chứ! Mong sao nó ra ngoài, học được chút khôn ngoan của người về mà chăm lo cho các em. Chị nó bệnh tật thế, coi như đã bỏ đi rồi!".
Thế nhưng, sự hân hoan và niềm hi vọng vừa lớn lao vừa bé mọn ấy đã nhanh chóng oà vỡ trong đớn đau tuột cùng. Đơn vị của Hoàng, tên con trai bà, báo về hung tin, Hoàng có biểu hiện lạ. Cứ tối là trốn khỏi đơn vị, vào… rừng để ngủ. Gửi bầy con thơ cho hàng xóm, vợ chồng bà tất tưởi lên đơn vị thăm con. Thấy bố mẹ, Hoàng cười. Một nụ cười điên dại. Nhìn con cười, vợ chồng bà khóc. Chẳng dám đưa con về nhà ngay, được sự giúp đỡ của đơn vị, vợ chồng bà vội vã đưa Hoàng thẳng tới bệnh viện ở ngay gần đó. Bác sĩ kết luận, Hoàng bị chứng tâm thần phân liệt giống như người chị của mình. Đón con về, vợ chồng bà ruột gan héo hắt.
Nghĩ đến các con, nhiều lúc bà giấu chồng, thu lu ở chái nhà ôm mặt khóc. Thế nhưng, nước mắt ấy chẳng làm vơi dịu nỗi đau. Người con thứ ba, Phạm Thị Lan, dù đã lấy chồng và có hai con nhưng bệnh ác vẫn cứ bám theo. "Nó phát bệnh khi 23 tuổi. Nhà chồng chẳng dám chứa, lại giả về để tôi nuôi". Ngày Lan khăn gói về nhà mẹ đẻ, bà như người phát khùng. Bà vật vã gào khóc, đập ngực thình thịch oán trách phận mình hẩm hiu. Trong cơn hoảng loạn, chẳng biết bấu víu vào đâu, nghe người ta mách có ông thầy số giỏi, đôn đáo vay mượn, bà tìm đếm để được nhìn rõ "con đường vận hạn" của mình. Thầy bảo, nhà bà đang ở có quỷ ám ma trêu, không trừ không được.
Trong cơn cùng quẫn, thầy phán sao, bà nghe vậy. Thế là suốt mấy ngày liền, bà lầm rầm hương khói, những mong tai ương tạm tha cho ngôi nhà đã có quá nhiều niềm đau ấy. Thế nhưng, tất cả chỉ là công dã tràng. Số hẩm hiu của bà chẳng phép nhiệm mầu nào thay đổi được. Sau Lan là đến lượt Tâm, Dung, Đức, Hoa… và cho tới đứa con cuối cùng, đến hẹn lại lên, chừng tuổi đôi mươi là giở chứng, nói cười khùng khục. Bà bảo, khi ấy, bà không còn nước mắt để xót con, để không thương phận mình nữa. Nỗi đau đã khiến bà chai lì. Bà bình thản và cam chịu đón tin dữ như một sự tất yếu.
Nỗi đau chồng chất
Khổ đau, lam lũ, vợ chồng bà ngày một gầy mòn. Ông nghỉ hưu, nhận quyết định hôm trước thì hôm sau sắm đồ nghề ra phố sửa xe. Bà vẫn tất tả với gánh rau ngoài chợ. Chắt chiu từng đồng nhàu nhĩ, phần dành mua gạo, phần lo trang trải tiền thuốc bầy con điên dại. Cuộc sống cứ nặng nề trôi nhưng nỗi đau thì vẫn vùn vụt đến. Bởi điên dại, nên chẳng biết lơ ngơ thế nào, lần lượt Thái, Dung, Cúc bỏ đi biệt tích.
Sảy nhà ra thất nghiệp, người bình thường còn vậy, chứ người dở dở ương ương thì không biết thế nào. Chờ mãi chẳng thấy con về, hai vợ chồng già thay phiên nhau, người đi tìm, người ở nhà trông con. Thế nhưng, đó là hành trình mò kim đáy bể. Suốt mấy năm trời ngược xuôi, đến tất cả những nơi có thể, nhưng các con bà vẫn chim cá bặt tăm. Sau này, nghe người ta kháo nhau, các con bà đã bị kẻ xấu lừa bán sang Trung Quốc vợ chồng bà mới không tìm nữa.
Mấy năm trước, Dung về. Đúng như người ta đồn thổi, các con bà bị bán sang Trung Quốc thật. Dung về, ú ớ kể, cô đã có chồng, ở chỗ nào thì không rõ. Nơi ấy, cuộc sống cũng vất vả lắm. Nhà chồng Dung có nhiều nương rẫy, cứ sáng là cô địu con lên nương. Treo con lủng lẳng trên cành cây, cô làm quần quật đến tối nhọ mặt người mới được về. Cũng lần về thăm nhà ấy, Dung mếu máo bảo, cô bị ung thư. Đi khám các bác sĩ bên ấy bảo vậy. Về thăm nhà được mấy hôm, tranh thủ lúc thời tiết mát mẻ, Dung vội vàng sang bên kia. Thương con, bà muốn giữ con ở lại ít ngày nhưng sợ khi ấy, giở giời, bệnh của con gái mình lại phát, quên mất đường về thì khổ. Dung đi, biên thư về một lần duy nhất và từ đó không tin tức nên bà chẳng biết sống chết thế nào. Dung đi được ít lâu thì Cúc gửi thư về. Cúc viết được mấy dòng nguệch ngoạc. Trong thư, Cúc bảo, ở nhà chồng khổ lắm. Nhớ nhà, thương bố mẹ nhưng chẳng thể nào nhớ lối mà về.
Ngày chồng còn, bà còn có chỗ chở che, có người động viên an ủi. Thế nên, từ ngày ông mất (năm 2004), một mình vật lộn giữa đời, giữa bầy con điên dại, bà thấy mình kiệt sức. Bà kể, cái ngày ông ốm liệt giường rồi mất, bà thấy trước mặt mình chỉ có thăm thẳm vực sâu. Ông nằm co ro trên giường, Hoa, Đức- hai người con thứ bảy, tám của bà đang trong lúc bệnh phát nặng, co quắp dưới đất. Trông mà cám cảnh. Ông mất được ít lâu thì đến lượt Đức không gượng được với bạo bệnh nên cũng từ giã cõi đời.
Chồng không còn, đồng nghĩa với việc mất nơi nương tựa, sẻ chia nên nhiều lúc bà đã định quyên sinh cho nhẹ nợ. Thế nhưng, bà không chết được. Bà kể, đã rất nhiều lần, lừa các con ngủ say, một mình, bà lang thang ra bến Bính, ra cầu Quay, định trẫm mình cho xong cái kiếp khổ đau, u uất. Thế nhưng, chẳng lần nào bà thực hiện được ý định ấy. Bước lên cầu, nghĩ mình chết thì ai lo cho bầy con có lớn chẳng có khôn ấy, bà đành gạt lệ, lủi thủi quay về.
Hành khất nuôi con
Một mình, gánh rau của bà chẳng nuôi đủ bày con. Chẳng biết làm gì khác, bà đành mưu sinh bằng nghề mà có lẽ, trong đời chẳng ai mong muốn. Ăn xin. Bà bảo, ngày đầu mới làm "Ok986 vip thuộc liên minh OKVIP mới" ấy, bà ngượng đến chín mặt. Đói cho sạch, rách cho thơm, ngày trước, bố mẹ bà dạy thế. Thế nhưng, trong hoàn cảnh éo le này, bà không có quyền lựa chọn. Cứ ngày lễ, ngày rằm, ngày mồng một, bà lang thang ở các chùa chiền gần đó. Người đi lễ biết số phận bi thương của bà nên cũng rộng lòng hảo tâm. Ngày thường, bà quẩn quanh ở mấy trường học trong phường. Hễ thấy bà là đám học sinh bu lại, đứa cho mấy trăm, đứa vài nghìn. Tiền ấy, bà dành tất cả cho con.
Tài sản duy nhất của bà bây giờ là mấy cuốn sổ chứng nhận các con bà bị bệnh tâm thần. Bà bảo, nhờ mấy cuốn sổ ấy mà con bà được Link Đăng Ký Đăng Nhập Nhà Cái OK9 Chính Thức trợ cấp. Số tiền trợ cấp ấy tuy ít ỏi, nhưng cũng giúp bà vơi bớt gánh lo toan. Tuy vậy, mấy năm nay, thấy lưng mỏi, chân đau, bà biết, bà chẳng còn sống được bao lâu nữa. Khi về với bên kia thế giới, với bà thì coi như trút hết muộn phiền, nhưng bà lo cho các con của mình lắm. Không biết chúng sẽ bấu víu vào đâu khi lơ ngơ trên cõi đời này